Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 10/10/2025 của Viện trưởng Viện KSND tối cao về công tác của Ngành kiểm sát nhân dân năm 2026, Hướng dẫn 28/HD-VKSTC ngày 24/10/2025 của Viện KSND tối cao về công tác kiểm sát các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động, phá sản và các việc khác theo quy định của pháp luật năm 2026, Kế hoạch số 03/KH-VKS ngày 24/10/2025 của Viện KSND thành phố Hà Nội về công tác của Ngành Kiểm sát Thủ đô năm 2026, theo đó, Viện KSND thành phố Hà Nội tiếp tục xác định “Nâng cao chất lượng kháng nghị, nhất là kháng nghị phúc thẩm đối với các bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp có vi phạm nghiêm trọng” là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, đột phá của Ngành kiểm sát thủ đô trong lĩnh vực Kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và kiểm sát giải quyết các vụ án Kinh doanh thương mại nói riêng. Đồng thời, phấn đấu đạt và vượt Chỉ tiêu Quốc hội giao cho Ngành kiểm sát trong khâu công tác Kiểm sát giải quyết các vụ án Hành chính, KDTM, Lao động và các việc khác theo quy định của pháp luật tại Nghị quyết 96/2019/QH14 ngày 27/11/2019 đối với công tác kháng nghị là tỷ lệ các kháng nghị phúc thẩm được Tòa án chấp nhận đạt trên 70%; tỷ lệ các kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm được Tòa án chấp nhận đạt trên 75%; tỷ lệ các kiến nghị được các cơ quan, đơn vị hữu quan chấp nhận đạt trên 80%.
Từ 01/01/2026 đến 30/6/2026, TAND thành phố đưa ra xét xử 03 vụ án KDTM có kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện KSND hai cấp thành phố Hà Nội. Kết quả: Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận 03/03 kháng nghị, đạt tỷ lệ chấp nhận 100% (vượt chỉ tiêu Quốc hội). Thực tiễn công tác kiểm sát giải quyết án Kinh doanh thương mại 06 tháng đầu năm 2026 của ngành Kiểm sát Thủ đô cho thấy, để thực hiện tốt công tác kháng nghị, ngoài sự quan tâm của lãnh đạo viện, mỗi kiểm sát viên làm khâu công tác này đều phải tâm huyết, trách nhiệm và có phương pháp, kỹ năng phát hiện vi phạm để từ đó tham mưu cho lãnh đạo Viện ban hành kháng nghị đạt hiệu quả. Một số vụ án KDTM điển hình có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội là minh chứng rõ nét cho kết quả thực hiện công tác kháng nghị phúc thẩm đổi với các vụ án Kinh doanh thương mại trong thời gian qua.
Vụ án thứ nhất về “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần” giữa Nguyên đơn: các ông/bà Vũ Kiên C, Vũ Kiên T, Vũ Thị Thiên H và Bị đơn Công ty cổ phẩn T, các ông/bà Trần Hoài D, Trần Trọng N, Lê Thị O:
Ông Vũ Kiên C, ông Vũ Kiên T và bà Vũ Thị Thiên H là cổ đông sáng lập của Công ty cổ phần T; đăng ký doanh nghiệp được Sở kế hoạch đầu tư Thành phố Hà Nội cấp lần đầu ngày 22/12/2014. Công ty cổ phần T khi đó có tổng vốn điều lệ là 500.000.000.000 VNĐ (năm trăm tỷ đồng) và tổng số cổ phần là 50.000.000 cổ phần (năm mươi triệu cổ phần) tương ứng với mệnh giá 10.000 đồng/CP.
Do công ty gặp khó khăn về nguồn vốn bổ sung nên các ông bà Vũ Kiên C, Vũ Kiên T, Vũ Thị Thiên H đã thỏa thuận về việc chuyển nhượng toàn cổ phần tại Công ty cổ phần T cho các ông/bà Trần Hoài D, Trần Trọng N, Lê Thị O kèm theo điều kiện các cổ đông mới sẽ nhận nợ và thực hiện thanh toán các khoản vay tại Ngân hàng, đồng thời thực hiện trách nhiệm thay đổi thông tin người đại diện theo pháp luật tại nhóm các công ty con của Công ty cổ phần T.
- Ngày 10/01/2022, lần lượt ông Vũ Kiên C; bà Vũ Thị Thiên H; ông Vũ Kiên T đã ký Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần cho các ông/bà Trần Hoài D, Trần Trọng N, Lê Thị O. Nội dung thỏa thuận: Giá chuyển nhượng toàn bộ cổ phần là 1.100.000.000.000 đồng. Hình thức thanh toán (hình thức nhận nợ): Số tiền chuyển nhượng cổ phần được đối trừ vào các khoản nợ vay, nợ phải trả của Công ty cổ phần T và nợ vay của 12 công ty thành viên dư nợ tại Ngân hàng Agribank - chi nhánh Hồng Hà. Đồng thời, bên nhận chuyển nhượng có trách nhiệm thay đổi tất cả danh tính và chức danh giám đốc các Công ty con đã bàn giao và nhận bàn giao trước ngày 31/12/2022.
- Ngày 15/01/2022, các bên ký Biên bản thanh lý Hợp đồng. Tại biên bản này các bên đã khẳng định không còn bất kỳ thắc mắc nào về việc thực hiện nghĩa vụ. Ngày 07/02/2022 các bên lại tiếp tục ký kết văn bản thoả thuận các nội dung liên quan tới việc thanh toán các khoản nợ và quyền, nghĩa vụ liên quan khác. Đồng thời, các bên cũng ký 03 văn bản thỏa thuận để chuyển giao nghĩa vụ nợ và bàn giao, chuyển giao tài sản thế chấp của Công ty Cổ phần T và các công ty liên quan sang cho nhóm cổ đông mới.
Phía Nguyên đơn cho rằng: Sau khi hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng cổ phần, các ông/bà Trần Hoài D, Trần Trọng N, Lê Thị O đã vi phạm nghiêm trọng thỏa thuận trong Hợp đồng chuyển nhượng, cụ thể: Các cổ đông mới chỉ thực hiện thru tục thay đổi đối với Công ty T, còn tất cả các Công ty con (Công ty thành viên) vẫn giữ nguyên người đại diện theo pháp luật, không thực hiện đúng và đủ nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ đối với danh sách các Công ty con khiến người đại diện theo pháp luật, các thành viên của Công ty con bị kê vào danh sách nợ xấu và chịu ràng buộc trách nhiệm pháp lý liên quan.
Do đó, các Nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
1. Tuyên bố giao dịch liên quan tới việc chuyển nhượng cổ phần tại Công ty cổ phần T giữa nguyên đơn là ông Vũ Kiên Ch, ông Vũ Kiên T và bà Vũ Thị Thiên H với các ông, bà Trần Hoài Dg, Trần Trọng N, Lê Thị O là vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý liên quan;
2. Buộc phía bị đơn phải bàn giao trả lại nguyên đơn toàn bộ danh sách tài sản, các quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng tài sản (nếu có) của Công ty cổ phần T.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2025/KDTM-ST ngày 30/7/ 2025 của Toà án nhân dân khu vực A đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn - ông Vũ Kiên C, ông Vũ Kiên T và bà Vũ Thị Thiên H. Tuyên bố giao dịch liên quan tới việc chuyển nhượng cổ phần tại Công ty cổ phần T giữa các ông/bà ông Vũ Kiên C, Vũ Kiên T và Vũ Thị Thiên H với các ông/bà Trần Hoài D, Trần Trọng N và Lê Thị O là vô hiệu.
2. Giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu: Buộc phía bị đơn phải bàn giao trả lại nguyên đơn toàn bộ danh sách tài sản, các quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng tài sản (nếu có) của Công ty cổ phần T.
Các ông/bà Vũ Kiên C, Vũ Kiên T và Vũ Thị Thiên H có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho các ông/bà Trần Hoài D, Trần Trọng N và Lê Thị O số tiền 33.138.567.152 đồng (Ba mươi ba tỷ, một trăm ba mươi tám triệu, năm trăm sáu mươi bảy nghìn, một trăm năm mươi hai đồng).
Nguyên đơn là các ông/bà Vũ Kiên C, Vũ Kiên T và Vũ Thị Thiên H phải sử dụng tiền hoặc tài sản thế chấp để thay thế cho các bất động sản đang thế chấp cho khoản dư nợ ngắn hạn tại các Ngân hàng, đồng thời hoàn trả lại tài sản thế chấp cho chủ sở hữu (tài sản gì, giá trị bao nhiêu theo định giá do các Ngân hàng cung cấp).
Toàn bộ 50.000.000 (Năm mươi triệu) cổ phần của Công ty Cổ phần T được khôi phục cho nhóm các cổ đông cũ gồm ông Vũ Kiên T (36.000.000 cổ phần), ông Vũ Kiên C (8.000.000 cổ phần) và bà Vũ Thị Thiên H (6.000.000 cổ phần). Nguyên đơn tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ liên quan đến số cổ phần thuộc sở hữu của mình theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký thay đổi Giấy chứng nhận doanh nghiệp đối với Công ty Cổ phần T theo quyết định của Bản án có hiệu lực pháp luật.
Công ty Cổ phần T tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong trường hợp thay đổi cổ đông, thay đổi người đại diện theo pháp luật.
3. Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Quá trình kiểm sát giải quyết vụ án và kiểm sát kết quả giải quyết tại phiên tòa sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực A - Hà Nội nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và nội dung. Cụ thể như sau: Tòa án nhân dân khu vực A đã xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng cổ phần” là đúng nhưng Tòa án sơ thẩm lại xác định Công ty Cổ phần T là bị đơn là không đúng. Bởi lẽ, Công ty không phải là một bên ký kết các hợp đồng chuyển nhượng cổ phần này. Trong vụ án này, Công ty Cổ phần T phải được xác định là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại Bản án sơ thẩm giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản thế chấp tại các ngân hàng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa các Ngân hàng tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Không xác minh làm rõ và hỏi ý kiến của các Ngân hàng về việc nhóm cổ đông cũ và nhóm cổ đông mới chuyển giao nghĩa vụ thanh toán khoản vay nợ cụ thể và ngân hàng có chấp thuận việc chuyển giao nghĩa vụ? có việc thay đổi, bổ sung tài sản thế chấp không? Thực tế, hồ sơ vụ án thể hiện: Tòa án chưa thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định tài sản thế chấp là tài sản gì, giá trị bao nhiêu và có thay đổi gì tại thời điểm trước và sau khi chuyển nhượng cổ phần? Tài sản bảo đảm phát sinh sau khi chuyển nhượng cổ phần và cơ cấu nợ? Quá trình cơ cấu chuyển giao nghĩa vụ và thực hiện nghĩa vụ trả nợ các ngân hàng này từ ngày 10/01/2022 (ngày nhận chuyển nhượng cổ phần) cho đến ngày xét xử sơ thẩm cụ thể là bao nhiêu tiền bao gồm tiền gốc, lãi?.
Căn cứ yêu cầu khởi kiện và trình bày của nguyên đơn trong suốt quả trình giải quyết vụ án, nhận thấy: Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/8/2024 và tại các bản khai trình bày ý kiến cuối cùng, thì phía các nguyên đơn đều xác định: Do bên nhận chuyển nhượng vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị Tòa án xác định hợp đồng vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 423; Điều 251; Điều 370 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, đây là các quy định về việc đề nghị hủy bỏ hợp đồng chứ không phải là tuyên hợp đồng vô hiệu.
Nguyên đơn không có yêu cầu hoặc đưa ra được các căn cứ xác định hợp đồng vô hiệu do giả tạo. Tòa án cấp sơ thẩm xác định các Hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu do giả tạo theo quy định tại Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015, từ đó xác định yêu cầu khởi kiện còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2015 là xác định không đúng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không đảm bảo nguyên tắc khách quan trong quá trình giải quyết vụ án, vì: Theo Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án chỉ được giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện và yêu cầu của đương sự. Nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng cổ phần vô hiệu nhưng lại đưa ra căn cứ do bên nhận chuyển nhượng vi phạm nghĩa vụ thanh toán thuộc trường hợp hủy bỏ hợp đồng theo quy định tại Điều 423 Bộ luật dân sự năm 2015.
Hợp đồng vô hiệu và Hủy bỏ hợp đồng là hai chế định pháp lý hoàn toàn khác nhau về bản chất và hệ quả. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định một căn cứ mới là “giả tạo” (theo Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015) mà nguyên đơn không yêu cầu là vi phạm tính khách quan và vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương sự.
Từ những căn cứ trên, ngày 12/8/2025, Viện trưởng Viện KSND khu vực A - Hà Nội đã ban hành Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKS-KDTM đối với Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2025/KDTM-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực A- Hà Nội, với nội dung: Kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 11/5/2026, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã đưa ra xét xử phúc thẩm vụ án trên và quyết định “chấp nhận toàn bộ kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực A - Hà Nội”.
Vụ án thứ hai về “Tranh chấp Hợp đồng thuê nhà” giữa Nguyên đơn: Công ty cổ phần tập đoàn T và Bị đơn Công ty cổ phẩn P:
Ngày 27/12/2021, Công ty cổ phần tập đoàn T và Công ty cổ phần P ký kết Hợp đồng thuê nhà với nội dung: Công ty cổ phần tập đoàn T thuê toàn phần diện tích tầng 2, 3, 4 và tầng 5 của Toà nhà tại địa chỉ: Lô B1-DN17, Đô thị mới Nghĩa Đô – Dịch Vọng, số 94 phố Nguyễn Khánh Toàn, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, nay là phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội thuộc quyền quản lý, sử dụng của Công ty cổ phần P. Thời hạn hợp đồng thuê nhà là 05 năm liên tục được tính từ ngày 01/01/2022 đến ngày 31/12/2026 (Điều 2.2 của Hợp đồng thuê nhà). Công ty cổ phần tập đoàn T tiến hành việc đặt cọc cho Công ty cổ phần P 400.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu đồng) để đảm bảo nghĩa vụ thuê nhà. Khi hợp đồng chấm dứt, số tiền đặt cọc này sẽ được hoàn trả sau 60 ngày kể từ ngày bên thuê nhà bàn giao cho bên cho thuê nhà đầy đủ diện tích đúng theo thoả thuận (Điều 3.3 của Hợp đồng); Các bên được thoả thuận chấm dứt việc thực hiện Hợp đồng (Điều 5.2 của Hợp đồng); Các bên được chấm dứt hợp đồng thuê trước thời hạn khi đã thông báo bằng văn bản cho bên còn lại được biết trước 03 tháng (Điều 5.7 của Hợp đồng).
Vì tình hình hoạt động gặp khó khăn nên bên phía Công ty cổ phần tập đoàn T không thể tiếp tục thực hiện Hợp đồng nên ngày 28/3/2020 Công ty cổ phần tập đoàn T đã gửi Công văn số: 44/CV-TN về việc chấm dứt Hợp đồng thuê nhà trước thời hạn kể từ ngày 01/7/2024 gửi Công ty cổ phần P theo đúng thoả thuận tại Điều 5.7 của Hợp đồng thuê nhà. Theo đó, kể từ ngày 01/7/2024 Công ty cổ phần tập đoàn T sẽ được quyền chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn đối với Công ty cổ phần P, đồng thời Hợp đồng thuê nhà giữa các bên sẽ chấm dứt hiệu lực kể từ ngày này. Sau đó nhiều lần Công ty cổ phần P đã thông báo lịch trình dẫn khách hàng thuê mới tới khảo sát địa điểm thuê và Công ty cổ phần tập đoàn T đã tạo điều kiện cho việc khảo sát này. Ngày 26/6/2024, Công ty cổ phần tập đoàn T đã gửi Công văn số: 138/CV-TN về việc chấm dứt Hợp đồng thuê nhà và thông báo cho Công ty cổ phần P biết về thời gian bàn giao địa điểm thuê nhà. Đến ngày 02/7/2024 các bên đã tiến hành và hoàn tất xong việc bàn giao nhà.
Ngày 05/7/2024, Công ty cổ phần tập đoàn T đã gửi Công văn số 148/CV-TN để thông báo cho Công ty cổ phần P biết về thời điểm hoàn trả tiền đặt cọc 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) lại cho Công ty cổ phần tập đoàn T theo quy định tại Điều 3.3 là vào trước ngày 07/9/2024. Nhưng tới thời điểm hiện tại đã quá thời hạn hoàn cọc và đã nhiều lần được nhắc nhở hoàn trả tiền đặt cọc nhưng phía Công ty cổ phần P cố tình không hợp tác.
Nay Công ty cổ phần tập đoàn T đề nghị Tòa án: công nhận Hợp đồng thuê nhà giữa Công ty cổ phần P và Công ty cổ phần tập đoàn T đã chấm dứt hiệu lực trước thời hạn đúng thoả thuận và Buộc Công ty cổ phần P phải hoàn trả cho Công ty cổ phần tập đoàn T số tiền 400.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu đồng) đã nhận đặt cọc theo Hợp đồng thuê nhà.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 51/2025/KDTM-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực B quyết định:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
2. Xác định Hợp đồng thuê nhà ký ngày 27/12/2021 giữa Công ty cổ phần P Việt Nam với Bên thuê nhà: Công ty cổ phần tập đoàn T đã chấm dứt.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền thi hành án và kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Nhận thấy: Việc TAND cấp sơ thẩm nhận định thời hạn của Hợp đồng thuê nhà hai Bên thỏa thuận tại Khoản 2.1 Điều 2 của Hợp đồng: “Hai Bên thống nhất rằng thời hạn thuê nhà theo Hợp đồng này là năm (05) năm liên tục kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022 đến ngày 31 tháng 12 năm 2026”, từ đó xác định Nguyên đơn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn là vi phạm nên đã không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đòi lại 400.000.000 đồng tiền cọc là không có căn cứ. Bởi lẽ: Theo quy định của Hợp đồng, bên thuê phải thanh toán tiền thuê nhà vào ngày 20 của tháng trước kỳ thanh toán. Công ty cổ phần tập đoàn T đã chậm thanh toán tiền thuê nhà theo thoả thuận nhưng vào ngày 27/12/2023, Công ty cổ phần tập đoàn T đã có công văn số 367/2023/CV-TN gửi Công ty Cổ phần P với nội dung: Xin được chậm thanh toán tiền thuê nhà kỳ thuê 06 tháng (thời điểm thuê từ 01/01/2024 đến 30/6/2024) vào ngày 31/01/2024 và xin phía bị đơn không tăng tiền thuê nhà năm 2024.
Tại Công văn số 01.12/CV2023 ngày 29/12/2023, Công ty Cổ phần P đã cho phép Công ty Cổ phần tập đoàn T được phép thanh toán tiền thuê nhà chưa thanh toán đến ngày 10/01/2024. Trong ngày 29/12/2023, Công ty cổ phần tập đoàn T đã thanh toán tiền thuê nhà cho Công ty cổ phần P với số tiền 591.649.580 đồng. Đến ngày 10/01/2024 thì Công ty cổ phần tập đoàn T tiếp tục thanh toán cho Công ty cổ phần P số tiền 1.227.000.000 đồng; Tại các Công văn số 01.01/CV2024 ngày 17/01/2024, số 01.01/CV2024 ngày 29/01/2024, Công ty cổ phần P đã cho phép Công ty cổ phần tập đoàn T được phép thanh toán tiền thuê nhà còn thiếu đến ngày 19/01/2024 và ngày 31/01/2024. Đến ngày 31/01/2024 Công ty cổ phần tập đoàn T đã thanh toán số tiền thuê nhà còn lại cho Công ty cổ phần P là 60.921.815 đồng.
Tổng số tiền Công ty cổ phần T đã thanh toán tiền thuê nhà kỳ thuê 06 tháng (từ ngày 01/01/2024 đến 30/6/2024) là 1.879.571.395 đồng và được Công ty cổ phần P xuất hoá đơn với nội dung trên.
Như vậy, Công ty cổ phần tập đoàn T cũng đã hoàn thành xong việc thanh toán tiền thuê nhà cho phía bị đơn, đến thời điểm chấm dứt hợp đồng trước thời hạn là ngày 01/7/2024 giữa hai bên không có bất kỳ tranh chấp gì về quyền lợi, nghĩa vụ nào. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty cổ phần P cũng không có yêu cầu phản tố về việc Công ty cổ phần tập đoàn T vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng thuê nhà.
Công ty cổ phần tập đoàn T đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng các thoả thuận đã ký trong hợp đồng thuê nhà ngày 27/12/2021.
Theo quy định của điểm b Điều 3.3 của Hợp đồng: “b. Khi hợp đồng thuê chấm dứt, sau sáu mươi (60) ngày kể từ ngày diện tích thuê được Bên thuê bàn giao lại cho Bên thuê sau khi đã được dọn sạch, sửa chữa và phục hồi nguyên trạng như trước (ngoài trừ những hao mòn hợp lý tự nhiên) và không còn bất kỳ vướng mắc, tồn đọng giữa hai bên, Bên cho thuê sẽ hoàn trả cho Bên thuê số tiền đặt cọc sau khi khấu trừ các khoản phải trả của Bên thuê đối với bên cho thuê (nếu có)”.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực B – Hà Nội đã có quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐKNPT-VKS-KDTM ngày 08/10/2025. Đề nghị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm theo hướng: Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 51/2025/KDTM-ST ngày 10/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực B: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án KDTM phúc thẩm số 118/2026/KDTM-PT ngày 23/6/2026, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xét xử, chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực B.
Qua thực tiễn giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại nêu trên cho thấy, công tác kiểm sát của Viện kiểm sát hai cấp thành phố Hà Nội luôn được quan tâm, chú trọng và thực hiện kịp thời, hiệu quả. Với tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên, chất lượng công tác kiểm sát, đặc biệt là công tác kháng nghị, ngày càng được nâng cao, góp phần phát hiện, khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng và bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Qua đó, Viện kiểm sát thực hiện tốt vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế Việt Nam có nhiều đổi mới, mở cửa thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Việc giải quyết vụ án Kinh doanh thương mại đúng quy định của pháp luật để tạo hành lang pháp lý an toàn cũng như tạo niềm tin để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư vào thủ đô Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung. Điều đó đồng nghĩa với việc nền kinh tế của Việt Nam cũng ngày càng được tăng trưởng./.
Dương Vân Anh - Phòng 10