Áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội: một số vướng mắc và vấn đề đặt ra trong công tác kiểm sát

BTV Phòng 2

         Xử lý chuyển hướng – bước chuyển trong chính sách xử lý người chưa thành niên phạm tội

         Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 85/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, đã thiết lập cơ chế pháp lý chuyên biệt trong xử lý người chưa thành niên phạm tội, thể hiện quan điểm lấy giáo dục, phục hồi làm trọng tâm, hạn chế những tác động tiêu cực của quá trình tố tụng hình sự đối với sự phát triển của người chưa thành niên. Theo Điều 36 của Luật, có 12 biện pháp xử lý chuyển hướng, gồm 11 biện pháp áp dụng tại cộng đồng và biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Việc áp dụng các biện pháp này không chỉ hướng đến xử lý hành vi phạm tội mà còn nhằm khắc phục nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi vi phạm, tạo cơ hội để người chưa thành niên sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập cộng đồng.

         Để triển khai chế định này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 333/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 quy định chi tiết một số biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, trách nhiệm, trình tự, thủ tục xử lý chuyển hướng tại cộng đồng và một số nội dung có liên quan; liên ngành tư pháp Trung ương ban hành Thông tư liên tịch số 12/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 18/12/2025 quy định chi tiết việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong thực hiện một số điều của Luật Tư pháp người chưa thành niên. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành, có thể nhận diện một số tình huống pháp lý đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, thống nhất nhận thức và cách thức áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án. Trong đó, một số vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp cần được quan tâm.

         Một số vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

         Thứ nhất, khó khăn trong việc xác định đầy đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, đặc biệt đối với trường hợp người chưa thành niên phạm tội có đồng phạm hoặc đã đủ 18 tuổi tại thời điểm xem xét.

         Các điều 37, 38 và 39 Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định tương ứng về trường hợp áp dụng, trường hợp không được áp dụng và điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Theo đó, việc xem xét xử lý chuyển hướng không chỉ căn cứ vào loại tội phạm, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà còn phải đánh giá các điều kiện pháp luật quy định đối với từng trường hợp cụ thể. Đáng chú ý, khoản 3 Điều 37 quy định người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án có thể được xem xét áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Đồng thời, khoản 1 và khoản 2 Điều 38 quy định ngoại lệ đối với trường hợp đồng phạm có vai trò không đáng kể. Tuy nhiên, ngoại lệ này không được quy định đối với trường hợp tại khoản 3 Điều 38, tức là người chưa thành niên đã được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng mà phạm tội mới. Quy định trên thể hiện chính sách phân hóa trách nhiệm hình sự nhưng cũng đặt ra yêu cầu đánh giá chính xác vai trò của từng người trong vụ án có đồng phạm.

         Chẳng hạn, trong vụ án gây rối trật tự công cộng hoặc cố ý gây thương tích có nhiều người tham gia, người chưa thành niên không trực tiếp gây hậu quả nghiêm trọng nhất nhưng có hành vi tham gia, hỗ trợ hoặc tạo điều kiện cho những người khác thực hiện tội phạm. Việc xác định vai trò không đáng kể trong trường hợp này không thể chỉ căn cứ vào hậu quả trực tiếp do người đó gây ra mà cần đánh giá toàn diện hành vi, ý thức chủ quan, mức độ tham gia, sự tác động đối với hành vi của các đồng phạm khác và mối quan hệ giữa hành vi của người đó với hậu quả chung của vụ án. Nếu chỉ căn cứ vào việc người chưa thành niên có trực tiếp thực hiện hành vi nguy hiểm nhất hay không để đánh giá vai trò thì có thể chưa phản ánh đầy đủ bản chất hành vi đồng phạm. Ngược lại, nếu đánh giá vai trò đồng phạm một cách máy móc, không phân hóa mức độ tham gia của từng người thì có nguy cơ bỏ sót trường hợp đủ điều kiện được xem xét xử lý chuyển hướng.

         Bên cạnh đó, một vấn đề cần đặc biệt lưu ý là giới hạn về độ tuổi tại thời điểm xem xét áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Khoản 5 Điều 35 Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nếu tại thời điểm xem xét người phạm tội đã đủ 18 tuổi. Như vậy, có trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhưng đến thời điểm cơ quan có thẩm quyền xem xét áp dụng xử lý chuyển hướng thì đã đủ 18 tuổi và không còn đáp ứng điều kiện này. Đặc biệt, đối với người phạm tội khi gần đủ 18 tuổi, việc chậm thu thập chứng cứ, xác minh điều kiện áp dụng hoặc chậm thực hiện các thủ tục cần thiết có thể dẫn đến việc không còn đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Điều đó đặt ra yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng phải chủ động xem xét khả năng xử lý chuyển hướng ngay từ giai đoạn đầu, bảo đảm tiến độ giải quyết vụ án và thực hiện đầy đủ các thủ tục luật định, tránh bỏ lỡ cơ hội áp dụng chính sách đối với người chưa thành niên đủ điều kiện.

         Thứ hai, vướng mắc trong việc xác định thẩm quyền áp dụng xử lý chuyển hướng đối với vụ án có yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản.

         Theo khoản 1 Điều 52 Luật Tư pháp người chưa thành niên, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, trừ trường hợp vụ án có yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản. Khoản 5 Điều 55 quy định, trong quá trình áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng, nếu vụ án có yêu cầu về bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có văn bản kèm theo hồ sơ vụ án đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và giải quyết những vấn đề này. Mặc dù thẩm quyền đã được pháp luật phân định, nhưng việc xác định vụ án có còn yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản hay không có thể phát sinh những tình huống cần được xem xét thận trọng.

         Chẳng hạn, trường hợp người chưa thành niên đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, bị hại xác nhận không còn yêu cầu bồi thường thì cần xác định trong vụ án có còn vấn đề dân sự phải giải quyết hay không. Hoặc trường hợp hồ sơ có vật chứng nhưng không thuộc diện phải tịch thu, mà cần xem xét trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì việc xác định thẩm quyền áp dụng xử lý chuyển hướng phải căn cứ vào tính chất pháp lý của vật chứng và nội dung thực tế cần giải quyết. Đối với vụ án có nhiều bị can, tài sản hoặc vật chứng liên quan đến hành vi của nhiều người, việc xử lý chuyển hướng đối với một bị can còn đặt ra yêu cầu phân định rõ những vấn đề về tài sản cần giải quyết đối với người được xem xét xử lý chuyển hướng và những vấn đề tiếp tục được giải quyết trong phần còn lại của vụ án. Việc xác định thẩm quyền cần căn cứ vào yêu cầu giải quyết thực tế tại thời điểm xem xét, tính chất pháp lý của tài sản và nội dung còn phải được cơ quan có thẩm quyền quyết định. Không nên đồng nhất mọi trường hợp có vật chứng với trường hợp bắt buộc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản; đồng thời cũng không thể chỉ căn cứ vào việc các bên đã thỏa thuận bồi thường để bỏ qua việc đánh giá những vấn đề dân sự còn tồn tại. Việc xác định không chính xác thẩm quyền có thể dẫn đến phải thực hiện lại thủ tục hoặc kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến mục tiêu áp dụng xử lý chuyển hướng kịp thời đối với người chưa thành niên.

         Thứ ba, khó khăn trong việc đánh giá khả năng giáo dục, phục hồi và lựa chọn biện pháp xử lý chuyển hướng phù hợp với từng người chưa thành niên.

         Theo Điều 35 Luật Tư pháp người chưa thành niên, việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; khả năng giáo dục, phục hồi của người chưa thành niên và sự an toàn của bị hại, cộng đồng. Biện pháp được lựa chọn phải phù hợp với hoàn cảnh, độ tuổi và đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên. Đây là yêu cầu quan trọng nhưng cũng đặt ra khó khăn trong việc đánh giá và lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp, nhất là đối với những người chưa thành niên có hoàn cảnh gia đình phức tạp, thiếu sự quan tâm, quản lý của cha mẹ, bỏ học hoặc không có môi trường sinh hoạt ổn định. Những yếu tố này vừa có thể là nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội, vừa ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện các biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng. Nếu chỉ căn cứ vào điều kiện quản lý của gia đình để đánh giá khả năng giáo dục, phục hồi thì có nguy cơ bất lợi cho những người chưa thành niên có hoàn cảnh khó khăn, trong khi đây lại là nhóm cần được quan tâm, hỗ trợ.

         Để bảo đảm việc đánh giá khách quan, Điều 53 và Điều 54 của Luật quy định cơ chế người làm công tác xã hội tham gia tố tụng và xây dựng báo cáo điều tra xã hội. Theo đó, ngay sau khi khởi tố bị can là người chưa thành niên, Cơ quan điều tra phải yêu cầu người làm công tác xã hội tham gia tố tụng; trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo tham gia tố tụng, người làm công tác xã hội phải hoàn thành báo cáo điều tra xã hội và gửi cho Cơ quan điều tra. Báo cáo này phải thể hiện những thông tin cần thiết về nhân thân, hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, mức độ trưởng thành, tình hình học tập, các yếu tố có thể là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội và đề xuất biện pháp xử lý chuyển hướng nếu có. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là việc đánh giá khả năng giáo dục, phục hồi không thể chỉ dừng lại ở thông tin về nhân thân hoặc hoàn cảnh gia đình mà phải xác định được những yếu tố nguy cơ, nhu cầu hỗ trợ và điều kiện thực tế để người chưa thành niên thực hiện biện pháp xử lý chuyển hướng.

         Bên cạnh đó, cần phân biệt báo cáo điều tra xã hội với kế hoạch xử lý chuyển hướng quy định tại Điều 58 của Luật. Nếu báo cáo điều tra xã hội là cơ sở cung cấp, đánh giá thông tin về người chưa thành niên thì kế hoạch xử lý chuyển hướng phải xác định cụ thể biện pháp đề xuất áp dụng, thời gian, địa điểm thực hiện, quyền, nghĩa vụ của người chưa thành niên và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đặc biệt, khoản 3 Điều 35 cho phép áp dụng một hoặc nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng; trong đó, các biện pháp quy định tại khoản 6 đến khoản 11 Điều 36 phải được áp dụng đồng thời với một hoặc nhiều biện pháp quy định tại khoản 1 đến khoản 5 của điều này. Vì vậy, việc lựa chọn biện pháp không chỉ đòi hỏi đánh giá điều kiện áp dụng đối với từng biện pháp mà còn phải bảo đảm sự phù hợp khi kết hợp nhiều biện pháp, nhất là về thời hạn, nghĩa vụ và khả năng tổ chức thực hiện. Một kế hoạch xử lý chuyển hướng dù phù hợp về mặt lý thuyết nhưng thiếu người trực tiếp giám sát, thiếu cơ sở hỗ trợ học tập, học nghề, tư vấn tâm lý hoặc thiếu sự phối hợp của gia đình và chính quyền địa phương sẽ khó đạt được mục tiêu giáo dục, phục hồi như mong muốn.

         Thứ tư, vướng mắc trong việc bảo đảm tính thống nhất của hoạt động tố tụng khi xử lý chuyển hướng đối với một hoặc một số bị can trong vụ án có nhiều người tham gia.

         Đối với vụ án có nhiều bị can, trong đó có cả người chưa thành niên và người đã thành niên, việc xem xét xử lý chuyển hướng đối với một hoặc một số bị can đặt ra yêu cầu bảo đảm sự độc lập trong đánh giá trách nhiệm của từng người, đồng thời không ảnh hưởng đến việc giải quyết toàn diện vụ án. Theo khoản 7 Điều 55 Luật Tư pháp người chưa thành niên, việc áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng không làm chấm dứt các hoạt động tố tụng cần thiết để giải quyết vụ án. Mặt khác, Điều 56 quy định quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng phải thể hiện nội dung đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và giải quyết những vấn đề liên quan theo quy định. Như vậy, cần phân biệt việc xem xét áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng với việc đã có quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, đồng thời xác định rõ hậu quả pháp lý của quyết định đối với người được áp dụng và việc tiếp tục giải quyết vụ án đối với các bị can khác.

         Chẳng hạn, trong vụ án có nhiều người thực hiện hành vi phạm tội, một bị can là người chưa thành niên được xem xét áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, trong khi các bị can khác tiếp tục bị điều tra, truy tố. Trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải làm rõ hành vi, vai trò, hậu quả và trách nhiệm của từng bị can, bảo đảm việc xử lý chuyển hướng đối với một người không làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Đồng thời, cần quan tâm việc xử lý vật chứng chung, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại và xem xét điều kiện tách vụ án theo quy định. Việc giải quyết phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được xử lý chuyển hướng, các bị can khác và bị hại, tránh bỏ sót những vấn đề cần chứng minh hoặc làm phát sinh mâu thuẫn trong các quyết định tố tụng.

         Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án

         Từ những vấn đề nêu trên, để bảo đảm việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đúng quy định pháp luật, thống nhất và hiệu quả, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

         Thứ nhất, nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên trong việc chủ động rà soát, đánh giá điều kiện áp dụng xử lý chuyển hướng ngay từ giai đoạn điều tra

         Kiểm sát viên cần chủ động phối hợp với Điều tra viên xác minh, làm rõ độ tuổi của người thực hiện hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, vai trò đồng phạm, đặc điểm nhân thân và các điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định tại các điều 35, 37, 38 và 39 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Đặc biệt, cần chú trọng kiểm sát thời điểm xem xét áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người phạm tội khi gần đủ 18 tuổi; chủ động theo dõi tiến độ thu thập chứng cứ, xây dựng báo cáo điều tra xã hội và thực hiện các thủ tục cần thiết, tránh tình trạng chậm xem xét dẫn đến người phạm tội không còn đáp ứng điều kiện về độ tuổi.

         Bên cạnh đó, cần kiểm tra đầy đủ ba điều kiện tại Điều 39, gồm: có chứng cứ xác định người chưa thành niên đã thực hiện hành vi phạm tội; người chưa thành niên thừa nhận hành vi phạm tội; đồng ý bằng văn bản về việc xử lý chuyển hướng. Việc thừa nhận hành vi phải được xem xét trên cơ sở chứng cứ khách quan, hợp pháp, không thể thay thế yêu cầu chứng minh hành vi phạm tội; đồng thời phải bảo đảm sự tự nguyện và nhận thức đầy đủ của người chưa thành niên đối với việc đồng ý áp dụng xử lý chuyển hướng. Đối với vụ án có đồng phạm, cần đánh giá cụ thể hành vi, mức độ tham gia và vai trò của từng người, nhất là trường hợp người chưa thành niên có vai trò không đáng kể. Việc xem xét phải bảo đảm phân hóa trách nhiệm hình sự, tránh áp dụng máy móc hoặc bỏ sót trường hợp đủ điều kiện được xử lý chuyển hướng.

         Thứ hai, nâng cao chất lượng kiểm sát báo cáo điều tra xã hội, kế hoạch xử lý chuyển hướng và việc lựa chọn biện pháp áp dụng.

         Kiểm sát viên cần kiểm sát chặt chẽ việc yêu cầu người làm công tác xã hội tham gia tố tụng, thời hạn xây dựng báo cáo điều tra xã hội theo Điều 53 và Điều 54, cũng như việc xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng theo Điều 58 Luật Tư pháp người chưa thành niên.

         Đối với báo cáo điều tra xã hội, cần đánh giá tính đầy đủ, khách quan và xác thực của thông tin về hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, đặc điểm tâm sinh lý, khả năng giáo dục, phục hồi và các yếu tố có thể dẫn đến nguy cơ tái phạm. Trường hợp thông tin chưa đầy đủ, có mâu thuẫn hoặc chưa phản ánh đúng điều kiện thực tế của người chưa thành niên, cần yêu cầu làm rõ, bổ sung theo quy định.

         Đối với kế hoạch xử lý chuyển hướng, cần kiểm sát tính phù hợp và khả thi của biện pháp được đề xuất, thời hạn thực hiện, nghĩa vụ của người chưa thành niên và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Đặc biệt, khi đề xuất áp dụng đồng thời nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, phải kiểm tra việc kết hợp biện pháp theo khoản 3 Điều 35 và các điều kiện riêng của từng biện pháp, tránh lựa chọn biện pháp vượt quá phạm vi pháp luật cho phép hoặc thiếu điều kiện thực hiện.

         Đối với người chưa thành niên có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thiếu sự quản lý của người thân, cần chú trọng đánh giá khả năng huy động sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức và người làm công tác xã hội. Việc lựa chọn biện pháp phải hướng đến mục tiêu giáo dục, phục hồi, đồng thời bảo đảm an toàn cho bị hại và cộng đồng.

         Thứ ba, tăng cường kiểm sát căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và kịp thời thực hiện quyền hạn của Viện kiểm sát đối với các quyết định xử lý chuyển hướng không có căn cứ, trái pháp luật.

         Kiểm sát viên cần kiểm sát đầy đủ việc ra thông báo áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng, xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng, tổ chức phiên họp và ban hành quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật. Trong đó, cần đặc biệt chú trọng các thời hạn tố tụng tại Điều 55, Điều 58 và Điều 59; kiểm sát thành phần tham gia, trình tự phiên họp và nội dung quyết định, bảo đảm quyền của người chưa thành niên, người đại diện, người bào chữa và những người tham gia tố tụng có liên quan. Đối với vụ án có yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản, cần xác định chính xác thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo Điều 52 và Điều 55. Trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án, cần kịp thời thực hiện thủ tục đề nghị theo quy định, bảo đảm không kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

         Đặc biệt, cần thực hiện nghiêm quyền hạn của Viện kiểm sát theo khoản 4 Điều 56 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Theo đó, khi quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Cơ quan điều tra không có căn cứ, trái pháp luật, trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, Viện kiểm sát phải xem xét thực hiện quyền hủy quyết định và yêu cầu tiếp tục giải quyết vụ án hoặc mở lại phiên họp theo trường hợp luật định; nếu hồ sơ và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố đã chuyển đến Viện kiểm sát thì xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

         Việc thực hiện đầy đủ quyền hạn này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm các quyết định xử lý chuyển hướng được ban hành đúng căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đồng thời hạn chế tình trạng bỏ sót trường hợp đủ điều kiện hoặc áp dụng không đúng đối tượng.

         Thứ tư, tăng cường phối hợp liên ngành, bảo đảm việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng gắn với điều kiện tổ chức thực hiện và yêu cầu giải quyết toàn diện vụ án

         Cần tăng cường phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan có trách nhiệm tổ chức thi hành biện pháp xử lý chuyển hướng, chính quyền địa phương, người làm công tác xã hội và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thu thập thông tin, đánh giá điều kiện áp dụng, lựa chọn biện pháp và tổ chức thực hiện. Đối với vụ án có nhiều bị can, trong đó có cả người chưa thành niên và người đã thành niên, các cơ quan tiến hành tố tụng cần chủ động trao đổi, phối hợp giải quyết những vấn đề phát sinh về xác định vai trò đồng phạm, xử lý vật chứng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại và việc tiếp tục giải quyết vụ án đối với các bị can khác. Việc phối hợp phải bảo đảm đúng chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan, không làm ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan của hoạt động tố tụng.

         Đồng thời, cần quan tâm đến điều kiện thi hành các biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, nhất là việc phân công người trực tiếp giám sát, hỗ trợ học tập, học nghề, tư vấn tâm lý và phối hợp với gia đình, chính quyền cơ sở. Đây là yếu tố quan trọng để biện pháp xử lý chuyển hướng không chỉ được áp dụng đúng pháp luật mà còn đạt được hiệu quả giáo dục, phục hồi trên thực tế.

         Thứ năm, tăng cường tổng kết thực tiễn, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng

         Các đơn vị cần chủ động rà soát, tổng hợp những tình huống phát sinh trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, nhất là những vấn đề còn có cách hiểu khác nhau về tiêu chí xác định vai trò không đáng kể của người chưa thành niên trong vụ án đồng phạm; việc xác định thẩm quyền khi vụ án đã khắc phục xong hậu quả nhưng vẫn còn vấn đề về tài sản cần giải quyết; việc lựa chọn, kết hợp các biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng và giải quyết vụ án có nhiều bị can.

         Trên cơ sở đó, kịp thời báo cáo, đề xuất cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, giải đáp, bảo đảm thống nhất nhận thức và áp dụng pháp luật. Đồng thời, cần đẩy mạnh việc trao đổi kinh nghiệm, tổ chức tập huấn chuyên sâu cho Kiểm sát viên về kỹ năng đánh giá điều kiện xử lý chuyển hướng, kiểm sát báo cáo điều tra xã hội, kế hoạch xử lý chuyển hướng, kiểm sát phiên họp và thực hiện quyền hạn của Viện kiểm sát đối với các quyết định liên quan. Việc tổng kết, hướng dẫn cần gắn với những tình huống pháp lý cụ thể, bảo đảm các giải pháp được đề xuất có tính khả thi, đáp ứng yêu cầu thực hiện chế định xử lý chuyển hướng trong thực tiễn.

         Kết luận

         Có thể khẳng định, xử lý chuyển hướng là một trong những chế định quan trọng của Luật Tư pháp người chưa thành niên, thể hiện sự đổi mới trong chính sách xử lý người chưa thành niên phạm tội theo hướng đề cao giáo dục, phục hồi và phòng ngừa tái phạm. Tuy nhiên, để chế định này thực sự phát huy hiệu quả, cần tiếp tục nghiên cứu, tháo gỡ những khó khăn trong việc xác định điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tổ chức thực hiện; đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan, tổ chức có liên quan.

         Đối với ngành Kiểm sát, việc thực hiện tốt chế định xử lý chuyển hướng đòi hỏi Kiểm sát viên phải chủ động ngay từ giai đoạn điều tra, kiểm sát chặt chẽ căn cứ, tính hợp pháp và sự phù hợp của từng biện pháp được lựa chọn. Xử lý chuyển hướng không phải là giảm nhẹ yêu cầu chứng minh tội phạm, mà là phương thức xử lý phù hợp với đặc điểm của người chưa thành niên trên cơ sở bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Qua đó, vừa tạo điều kiện để người chưa thành niên sửa chữa sai lầm, tái hòa nhập cộng đồng, vừa bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại và yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm./.

Ngô Minh Hùng - Phòng 2

Bài viết trước Viện KSND khu vực 9 – Hà Nội tổ chức phiên tòa giả định, tuyên truyền pháp luật về phòng, chống ma túy trong học đường tại Trung tâm GDNN - GDTX số 9 - Hà Nội
Bài viết tiếp theo Viện KSND thành phố Hà Nội làm việc với UBND phường Sơn Tây về địa điểm xây dựng trụ sở Viện KSND khu vực 9
In
23 Đánh giá bài viết này:
Không có đánh giá
Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để đăng bình luận.

Trang Nhất
Viện trưởng Nguyễn Huy Tiến trình bày Báo cáo về dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và Tờ trình dự án Nghị quyết của Quốc hội
Viện trưởng Nguyễn Huy Tiến trình bày Báo cáo về dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và Tờ trình dự án Nghị quyết của Quốc hội

Viện trưởng Nguyễn Huy Tiến trình bày Báo cáo về dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và Tờ trình dự án Nghị quyết của Quốc hội

19 Tháng Mười 2026
   Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, sáng 18/10, Quốc hội khóa XVI làm việc tập trungtại Hội trường Diên Hồng (Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà...
Tin hoạt động
Tin trong nước
Tin địa phương
Tin quốc tế
Diễn đàn nghiệp vụ
Hình ảnh
Lễ bổ nhiệm Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND thành phố Hà Nội
Video
Thông báo
Tin đọc nhiều
WEBSITE LIÊN KẾT