Hết thời hiệu khởi kiện thừa kế: Di sản thuộc về người quản lý? – Phân tích vụ án điển hình

BTV Phòng 9

        1. Nội dung vụ án:

        Về huyết thống: Cụ Nguyễn Hữu B (Chết năm 1994) kết hôn với cụ Nguyễn Thị S (Chết năm 1950). Cụ B và cụ S có hai con là bà V1 (Chết năm 2022). Bà V1 có chồng là ông H (Chết năm 2010) và con là bà H1.

        Năm 1938 cụ Nguyễn Hữu B kết hôn với cụ Lê Thị L (Chết năm 1990). Cụ B và cụ L có bốn con:  Bà V2, bà V3,  bà V4 và bà V5.

        Về di sản đang tranh chấp: Thửa đất số 90, tờ bản đồ số 2, diện tích 670m2 có địa chỉ X có nguồn gốc các cụ để lại cho cụ B. Ngày 12/3/1991, cụ B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.  Sau khi chia di sản thừa kế của cụ S theo quyết định của bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện X thì bà V1 được chia 123,5m2. Vì vậy diện tích còn lại là 546,5m2 đất ở hiện bà V4 là người đang quản lý sử dụng.

        Các đồng nguyên đơn - Bà V2, bà V3; bà V5 và hàng thừa kế thế vị của bà V1 là bà H1, trình bày:

        Ngày 1/12/1990, cụ Lê Thị L chết không để lại di chúc. Cụ B cùng các con tiếp tục quản lý sử dụng khối tài sản chung. Ngày 12/3/1991, cụ B được Ủy ban nhân dân huyện X cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

        Ngày 1/10/1994, cụ B chết không để lại di chúc. Các đồng thừa kế của cụ L, cụ B cùng quản lý đã thống nhất bằng miệng để bà V4 và bà V5 đại diện quản lý, sử dụng toàn bộ khối tài sản chung là nhà và đất tại thửa đất số 90, diện tích 670m2, thuộc tờ bản đồ số 2 có địa chỉ X.

        Khoảng năm 2019 bà V4 đã phá dỡ ngôi nhà mà cụ L, cụ B để lại và làm nhà mới lên trên mà không được sự nhất trí của bà V1, V2, V3, V5. Từ sau khi cụ B chết, các đồng nguyên đơn vẫn qua lại thường xuyên tại diện tích đất có tranh chấp. Mặt khác bà V5 sau khi ly hôn chồng không có chỗ ở nào khác đã về ăn ở sinh sống trên phần đất này, sau khi bà V5 và bà V4 mâu thuẫn, bà V5 đã phải đi ở nhờ hàng xóm cho đến nay.

        Theo quan điểm của các đồng nguyên đơn thì thửa đất số 90, diện tích 670m2, thuộc tờ bản đồ số 2 có địa chỉ X là tài sản chung của các con của cụ B. Các nguyên đơn đề nghị:

        - Khôi phục lại ngôi nhà chung để làm nhà thờ tổ tiên và cha mẹ chúng tôi là những người có công xây dựng và tôn tạo thửa đất này.

        - Chia tài sản chung của cụ Nguyễn Hữu B và cụ Lê Thị L bằng hiện vật và chia thành 05 phần cho các con đẻ của cụ và các thế vị trên để có điều kiện làm nơi ở và thờ cúng tổ tiên không phụ thuộc vào gia đình bà V4.

        Bị đơn – bà V4 trình bày:

        Năm 1975 bà V4 kết hôn với ông Lê D. Năm 1986 được sự đồng ý của cụ B và cụ L, tôi làm một ngôi nhà mái bằng 50m2 bên cạnh để sinh sống và chăm sóc bố mẹ.

        Năm 1990, cụ L mất, không để lại di chúc.

        Năm 1994, cụ B mất, trước khi mất bố tôi có lập Giấy thừa tự ngày 01/01/1991, cụ có đưa cho tôi giữ có nội dung để lại cho tôi toàn bộ đất hương hỏa do tổ nghiệp để lại, hàng năm thu lợi để chi tiêu đèn hương tổ tiên, không ai được tranh chấp với tôi.

        Năm 1996, 3 gian nhà tranh vách đất bị đổ, mái dột nát không thể sử dụng được nữa nên tôi đã làm lại nhà cấp 4, diện tích 26m2 để thời cúng tổ tiên, bố mẹ.

        Ngày 05/03/2015 gia đình tôi có họp, có biên bản họp gia đình về việc xây dựng nhà để ở và thờ cúng tổ tiên “Theo ý chí và nguyện vọng của bố tôi để lại: ghi trong Văn bản lập ngày 01/01/1991. Nay chị em chúng tôi thống nhất với nguyện vọng của bố tôi, và cùng nhau lập biên bản này đồng ý cho bà V4 xây dựng căn nhà để ở và là nơi thờ cúng tổ tiên (có bản vẽ kèm theo) nằm trên diện tích đất 670m2, thửa đất số 90, tờ bản sồ số 2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A mang tên bố tôi Nguyễn Hữu B, địa chỉ X” 4 chị em tôi đồng ý và ký vào biên bản (bà V2, bà V3, bà V5 và tôi)

        Năm 2019, theo Giấy lập thừa tự đề ngày 01/01/1991 tôi làm lại nhà để ở và nơi thờ cúng tổ tiên, nhà xây kiên cố 2 tầng, diện tích xây dựng tầng 1 khoảng 170m. Việc này bà V2, bà V3, bà V5 đều biết và không ai có ý kiến gì.

        Tất cả quá trình xây dựng từ nhà tranh vách đất đến nhà mới hiện nay là công sức và tiền của của vợ chồng tôi, không ai đóng góp gì.

        Từ trước đến nay chỉ có tôi, ông D và các con sinh sống.

        Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không đồng ý. Bị đơn nộp đơn yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu sau:

        + Yêu cầu tính thời hiệu khi chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Hữu B và cụ Nguyễn Thị L.

        + Công nhận Giấy lập thừa tự ngày 01/01/1991 của cụ Nguyễn Hữu B là hợp pháp giao toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 90, diện tích 670m², thuộc tờ bản đồ số 2 cho tôi Nguyễn Thị V4.

        + Công nhận diện tích còn lại sau khi thi hành Bản án dân sự sơ thẩm số ... ngày... của Tòa án nhân dân huyện X và Bản án dân sự phúc thẩm số ... ngày ... của Tòa án nhân dân thành phố Y thửa đất số 90, thuộc tờ bản đồ số 2 khoảng 546,5m² thuộc quyền sở hữu của vợ chồng tôi V4, Lê D.

        2. Quá trình giải quyết, Bản án sơ thẩm của TAND khu vực A quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn bà V2, bà V3, bà V5 và thừa kế thế vị của bà V1 là bà H1 về việc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung là di sản thừa kế của cụ B và cụ L.

         Chấp nhận một phần phản tố của bị đơn bà V4.

         Xác định diện tích đất ở đất tại thửa đất 90, tờ bản đồ số 2, diện tích  (670m2  - 123,5 m2 = 546,5m2 đất ở có địa chỉ tại X là tài sản chung của các con của cụ B và tòa án đã chia bằng hiện vật cho bà V3, bà V2, bà V5, các thừa kế thế vị của bà V1 là bà H1, bà V4.

        Bác các yêu cầu khác của các đương sự.

        Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số thửa đất 90, tờ bản đồ số 2, diện tích (670m2  - 123,5 m2 = 546,5m2 đất ở  có địa chỉ tại X theo Giấy chứng nhận số A do Ủy ban nhân dân huyện X cấp ngày … cho ông Nguyễn Hữu B để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án. Hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên bà Nguyễn Thị V4 đang quản lý.

        Các đương sự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án và theo quy định của pháp luật.

        Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

        3. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

        Về thời hiệu khởi kiện: Cụ B chết năm 1994, cụ L chết năm 1990.

        Khi chết cụ L không để lại di chúc, Ngày 9/4/5025, nguyên đơn có đơn khởi kiện, căn cứ vào Điều 623 của Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện về chia di sản thừa kế của cụ L không còn. 

        Trước khi chết, ngày 1/1/1991, cụ B có lập Giấy thừa tự nội dung “…Nguyên tôi chỉ có con gái không có con trai, tôi già yếu, hiện nay cơm nước hàng ngày lúc ốm đau, V4 trông nom cơm nước thuốc thang rất cẩn thận chu đáo. Nay tôi tự nguyện lập V4 là con thừa tự, phần đất do tổ nghiệp để lại cho tôi sử dụng nay giao cả cho V4 làm  đất hương hỏa…Các con khác không ai được tranh chấp với V4 cả...”. Tuy nhiên, từ sau khi cụ B khi chết, bà V4 không làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ vào Điều 623 của Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện về chia di sản thừa kế của cụ B không còn. Do đó không có căn c chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn đề nghị công nhận hiệu lực của Giấy thừa tự ngày 1/1/1991.

        Quá trình quản lý sử dụng đất có các tài liệu về việc giải quyết đối với di sản thừa kế như sau:

        - Biên bản họp gia đình ngày 5/3/2015 về việc xây dựng nhà để ở và thờ cúng tổ tiên “Theo ý chí và nguyện vọng của bố tôi để lại ghi trong Văn bản lập ngày 01/01/1991. Nay chị em chúng tôi thống nhất với nguyện vọng của bố tôi, và cùng nhau lập biên bản này đồng ý cho bà V4 xây dựng căn nhà để ở và là nơi thờ cúng tổ tiên (có bản vẽ kèm theo) nằm trên diện tích đất 670m2, thửa đất số 90, tờ bản sồ số 2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A mang tên bố tôi Nguyễn Hữu B, địa chỉ X”. Biên bản  họp có bà V2, bà V3, bà V5 và V4 kí. Theo văn bản này thấy thửa đất số 90 diện tích 546,5m2 là tài sản chung của cụ B, cụ L. Việc cụ B lập Giấy thừa tự ngày 1/1/1991 cho bà V4 toàn bộ quyền sử dụng đất là vượt quá phần của cụ B. Tuy nhiên, tại biên bản họp này, tất cả hàng thừa kế của cụ L vẫn đồng ý để cho bà V4 sử dụng.

        - Biên bản thực hiện việc thừa tự ngày 29/10/2024, nội dung: Chúng tôi thấy 670m2 đất trong Giấy chứng nhận theo ý chí của bố chúng tôi trong Giấy thửa tự dành cho việc hương hỏa bà V4, bà V1 mỗi người đã sử dụng 1 phần thửa đất, còn lại khoảng 200m2...Những người con của bố mẹ chúng tôi cùng nhau bàn bạc để khai thác dử dụng đất hương hỏa phù hợp với qui định của pháp luật. Trước đây vào thời kì bố mẹ chúng tôi còn sống, đất hương hỏa được khai thác dưới hình thức trồng cây ăn quả trên đất tạo ra hoa lợi. Để tạo ra giá trị thặng dư từ đất ở cần phải đầu tư xây dựng nhà để kinh doanh theo qui định của pháp luật; cần phải có vốn đầu tư xây dựng mặt bằng để kinh doanh hoặc cho thuê, ước tính vốn đầu tư khoảng 1,5 tỷ. Ngoài phần đất hương hỏa bà V4 đang sử dụng; Giao phần vốn góp và đất hương hỏa còn lại cho bà V5; bà V5 có nghĩa vụ thực hiện thủ tục làm nhà đồng thời quản lý sử dụng đất hương hỏa phù hợp với qui định của pháp luật”. Biên bản  họp có bà V2, bà V3, bà V5 và V4 kí.

        - Biên bản họp gia đình ngày 12/12/2024 về việc xây dựng nhà ở, nội dung: Chị em chúng tôi họp bàn và thống nhất đối với việc sử dụng một phần diện tích đất ở thuộc một phần thửa đất số 90, cụ thể: Cho bà V5 xây dựng nhà ở có diện tích 9x19m2. Biên bản  họp có bà V2, bà V3, bà V5 và V4 kí.

        Sau khi có các biên bản trên thì thực tế bà V4 vẫn là người quản lý và sử dụng toàn bộ 546,5m2, bà V5 chưa về xây dựng và quản lý đất. Cả bà V4 và bà V5 đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

        Điểm I.2.4 NQ02/2004 ngày 10/8/2004 của HĐTPTANDTC quy định: Trường hợp trong thời hạn 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn 10 năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết thì không áp dụng thười hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các qui định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.

        Trong vụ án này thấy, khi còn thời hiệu chia thừa kế, các đồng thừa kế đã có nhiều văn bản giải quyết về quyền sử dụng đất khác nhau thể hiện tại các văn bản nêu trên và các đồng thừa kế không có văn bản xác nhận là đồng thừa kế, các văn bản trên đều thiếu bà V1- một trong những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ B. Sau khi có các biên bản họp gia đình năm 2024 thì bà V4 vẫn không đồng ý cho bà V5 sử dụng diện tích đất theo nội dung biên bản họp gia đình. Do đó vụ án không thỏa mãn điều kiện kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế. Sau khi hết thời hiệu chia thừa kế, các đồng thừa kế không có sự thống nhất xác nhận di sản do người chết để lại chưa chia (bà V4 xác định đã được cụ B để lại quyền sử dụng đất cho bà theo Giấy lập thừa tự ngày 1/1/1991) nên không thỏa mãn điều kiện các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia. Do đó, có căn cứ xác định đây là di sản thừa kế chưa chia mà chưa được chuyển sang thành tài sản chung chưa chia. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia tài sản chung là 546,5m2 đất tại thửa 90 là không phù hợp qui định của pháp luật.

        Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 qui định: Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Như phân tích trên thấy thời hiệu chia thừa kế đã hết, bà V4 là người thừa kế đang quản lý di sản nên theo qui định của pháp luật di sản này thuộc về bà V4.

        Vì vậy, Bản án phúc thẩm đã sửa Bản án sơ thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn, cụ thể: Xác định Thửa đất số 90, thuộc tờ bản đồ số 2 khoảng 546,5m2 thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị V4.

        Từ vụ án trên cho thấy, mặc dù thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế đã hết, song Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đầy đủ các điều kiện pháp lý để xác định di sản có chuyển thành tài sản chung của các đồng thừa kế hay không, mà mặc nhiên coi là tài sản chung để chia là thiếu căn cứ và chưa phù hợp quy định của pháp luật./.

Trần Thị Ngoan, Nguyễn Thị Hà Phương – Phòng 9

Bài viết trước Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội đồng hành cùng Hội Khuyến học xã Ứng Thiên lan tỏa phong trào học tập suốt đời và tham gia Lễ phát động Tháng Nhân đạo 2026 tại xã Vân Đình
Bài viết tiếp theo Viện KSND khu vực 12 - Hà Nội phối hợp với TAND cùng cấp tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án dân sự
In
12 Đánh giá bài viết này:
Không có đánh giá
Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để đăng bình luận.

Trang Nhất
Tin trong nước
Tin địa phương
Tin quốc tế
Diễn đàn nghiệp vụ
Hình ảnh
Lễ bổ nhiệm Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND thành phố Hà Nội
Video
Thông báo
Tin đọc nhiều
WEBSITE LIÊN KẾT