Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025), tội “Chứa mại dâm” tại Điều 327 được xác định là hành vi chứa chấp, cho phép sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để thực hiện việc mua bán dâm; trong khi đó; tội “Môi giới mại dâm” tại Điều 328 là hành vi làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt, thỏa thuận việc mua bán dâm giữa các bên. Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn liên quan đến hai tội danh này nhằm bảo đảm việc áp dụng thống nhất trong thực tiễn. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết các vụ án, không ít trường hợp người phạm tội đồng thời thực hiện cả hai dạng hành vi: vừa trực tiếp dàn xếp, thỏa thuận việc mua bán dâm, vừa bố trí địa điểm để hành vi đó được thực hiện. Vì vậy, ranh giới giữa hai tội danh trở nên khó phân định, dẫn đến những cách hiểu và áp dụng pháp luật chưa thực sự thống nhất. Việc xác định đúng tội danh, khung khoản trong trường hợp nêu trên không chỉ có ý nghĩa trong việc định tội, định khung hình phạt mà còn là cơ sở quan trọng bảo đảm nguyên tắc xử lý đúng người, đúng tội, tránh xử lý trùng lặp hành vi nhưng đồng thời cũng không bỏ lọt tội phạm.
Nhìn nhận từ vụ án thực tế: Đỗ Văn A là đối tượng chuyên môi giới mại dâm, đồng thời thuê một số địa điểm để gái bán dâm lưu trú, phục vụ hoạt động mua bán dâm. Từ tháng 5/2024, A thuê Nguyễn Hữu H làm nhiệm vụ đưa đón gái mại dâm và bố trí cho H ở tại phòng 302 số 15 ngách 40 ngõ 79 đường C, thành phố H. Chiều ngày 05/7/2024, A môi giới cho D và Q mua bán dâm tại phòng 302 (nơi A thuê cho H ở; H biết việc và nhường nơi ở của mình cho D và Q mua bán dâm). Khi các đối tượng đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Công an bắt quả tang.
Từ vụ án trên, việc xác định tội danh đối với A có 02 quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất: A phạm tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự và tội “Môi giới mại dâm” quy định khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự vì A đã có hành vi trực tiếp liên hệ, thỏa thuận, sắp xếp địa điểm cho D và Q mua bán dâm. Đồng thời, A bố trí cho D và Q mua bán dâm tại địa điểm do A quản lý (thực tế Viện KSND khu vực M đã truy tố A về 02 tội danh).
Quan điểm thứ hai (cũng là quan điểm của nhóm tác giả): A chỉ phạm tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự. Hành vi chứa mại dâm được đặc trưng bởi yếu tố “quản lý địa điểm”, trong khi hành vi môi giới mại dâm là hành vi trung gian kết nối các bên. Khi người phạm tội vừa thỏa thuận, dàn xếp, vừa cho sử dụng địa điểm của mình để thực hiện hành vi mua bán dâm, thì yếu tố “địa điểm” mang tính quyết định trong việc định tội. Khi D và Q mua bán dâm tại nơi thuộc quyền quản lý của A, thì hành vi này của A cần xác định là hành vi “chứa mại dâm”. Quan điểm này cũng phù hợp với hướng dẫn tại Mục 1 Phần II Nghị quyết sô 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “trong trường hợp chủ hoặc người quản lý khách sạn, nhà trọ… gọi gái bán dâm đến cho khách để họ mua bán dâm ngay tại khách sạn, nhà trọ… thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của người gọi gái bán dâm thì người đó chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Chứa mại dâm”. Việc coi hành vi thỏa thuận, dàn xếp cho D và Q mua bán dâm tại địa điểm do A quản lý vừa là môi giới mại dâm, vừa là chứa mại dâm sẽ dẫn đến việc đánh giá trùng lặp một hành vi, không đảm bảo bảo nguyên tắc “không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm”.

Việc xác định tội danh trong trường hợp người phạm tội vừa có hành vi chứa mại dâm, vừa có hành vi môi giới mại dâm là vấn đề còn có cách hiểu khác nhau trong thực tiễn. Thông qua việc phân tích vụ án cụ thể, nhóm tác giả rất mong nhận được ý kiến trao đổi của đồng nghiệp để tiếp tục hoàn thiện nhận thức và nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử trong thời gian tới.
Đặng Thị Kiều Diễm, Trần Thúy Bình - Phòng 7