Quy định và thực tiễn áp dụng biện pháp dẫn giải, khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện

11/04/2024 09:07 | 793 | 0

        1. Quy định biện pháp áp giải trong Tố tụng hình sự

        1.1. Căn cứ áp dụng biện pháp dẫn giải

        Căn cứ theo điểm l, khoản 1, Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định. Theo đó, dẫn giải là biện pháp cưỡng chế do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện đối với người làm chứng, bị hại, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà xét thấy cần đảm bảo sự có mặt của họ để thực hiện các hoạt động tố tụng. Do vậy, mặc dù là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, nhưng đối tượng bị áp dụng là các chủ thể có quyền và lợi ích liên quan hoặc thậm chí là người bị xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp trước đó. Nên trong quá trình áp dụng biện pháp này Kiểm sát viên phải căn cứ vào tình hình thực tiễn của vụ việc, đối tượng áp dụng mà yêu cầu cơ quan thực thi biện pháp áp giải thực hiện phù hợp với tính chất thực tiễn của hành vi tố tụng.

        1.2. Thẩm quyền áp dụng và thi hành dẫn giải

        Thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp dẫn giải được quy định tại khoản 3 Điều 127 BLTTHS năm 2015, tùy theo các giai đoạn tố tụng khác nhau mà chủ thể có thẩm quyền cũng khác khau, cụ thể: Điều tra viên, Cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử.

        Việc giám sát chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp dẫn giải có vai trò rất quan trọng, để kịp thời đề xuất lãnh đạo Viện yêu cầu hủy bỏ các quyết định trái pháp luật, không đúng thẩm quyền, là nguyên nhân chính dẫn tới vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích của các chủ thể bị áp dụng.

        Đối với các trường hợp cụ thể mà đơn vị lực lượng hỗ trợ và bảo vệ tư pháp trong Công an nhân dân có thẩm quyền thi hành Quyết định dẫn giải.

        Thủ tục thi hành dẫn giải hiện nay vẫn đang được áp dụng theo Quyết định số 1502/2008/QĐ-BCA Ban hành quy trình bắt, áp giải bị can, bị cáo, người có quyết định thi hành án phạt tù, dẫn giải người làm chứng của lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc công an nhân dân theo yêu cầu của các Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

        Một số trường hợp trong quá trình thi hành biện pháp dẫn giải, tùy theo tính chất, mức độ của vụ việc mà Kiểm sát viên có thể trực tiếp tham gia vào hoạt động thì hành biện pháp dẫn giải, nếu thấy rằng việc áp dụng biện pháp dẫn giải có nguy cơ cao xâm phạm đến quyền con người, quyền và lợi ích của các chủ thể. Đồng thời trong quá trình áp dụng nếu nảy sinh các căn cứ khó áp dụng hoặc nếu áp dụng sẽ vi phạm quyền con người thì Kiểm sát viên kịp thời đề xuất hủy bỏ áp dụng biện pháp dẫn giải.

        1.3. Chủ thể bị áp dụng biện pháp dẫn giải

        Trong quá trình áp dụng và kiểm sát việc áp dụng biện pháp dẫn giải trên thực tế, Kiểm sát viên phải lưu ý về các chủ thể có thể bị áp dụng biện pháp dẫn giải như:

        Căn cứ theo Điều 127 BLTTHS năm 2015, biện pháp dẫn giải được áp dụng trong trường hợp sau đây:

        Thứ nhất, người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;

        Thứ hai, người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;

        Thứ ba, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc  do trở ngại khách quan.

        Nắm chắc được các chủ thể có thể áp dụng được biện pháp dẫn giải giúp cho Kiểm sát viên ra quyết định chính xác và kiểm sát việc áp dụng của chủ thể có thẩm quyền khác.

        2. Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng biện pháp dẫn giải

        Như đã nêu, dẫn giải là biện pháp rất hiệu quả trong việc đảm bảo hoạt động tố tụng được thực hiện một cách bình thường. Tuy nhiên, trên thực tế khi Kiểm sát viên áp dụng và kiểm sát việc áp dụng không phải lúc nào cũng thực hiện được do quy định của pháp luật hướng dẫn chưa cụ thể, việc áp dụng thiếu thống nhất và khó triển khai trên thực tế, cụ thể như sau:

        2.1. Vướng mắc về căn cứ áp dụng và kiểm sát việc áp dụng biện pháp dẫn giải

        Theo quy định của khoản 2 Điều 127 BLTTHS năm 2015

        Để áp dụng biện pháp dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố không có mặt theo giấy triệu tập hoặc yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.

        Khi áp dụng quy định trên trong thực tế, các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nói chung và Viện kiểm sát các địa phương nói riêng vẫn chưa thống nhất thực thi biện pháp dẫn giải do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể như: “Không có mặt theo giấy triệu tập hoặc theo yêu cầu” thì được hiểu là cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã gửi giấy triệu tập hoặc yêu cầu hợp lệ lần thứ mấy mà họ không có mặt? Cơ quan có thẩm quyền có cần xác định việc chủ thể đã nhận được giấy triệu tập hay chưa? Một số Viện kiểm sát các địa phương áp dụng biện pháp dẫn giải sau hai lần gửi giấy triệu tập hay yêu cầu hợp lệ nhưng một số đơn vị khác lại áp dụng sau khi đã gửi giấy triệu tập hay yêu cầu hợp lệ lần thứ ba mà chủ thể không có mặt.

        Trong thực tế đối với nhiều vụ việc, mặc dù cơ quan có thẩm quyền đã gửi giấy triệu tập hay yêu cầu hợp lệ nhiều lần, nhưng chủ thể không nhận được thông tin, vì nhiều lý do khách quan khác mà giấy triệu tập, yêu cầu bị thất lạc. Đến khi áp dụng biện pháp dẫn giải, họ mới biết và khiếu nại với quyết định dẫn giải. Chính việc thiếu thống nhất và chưa cụ thể này khiến các Kiểm sát viên ra quyết định dẫn giải hoặc kiểm sát hoạt động này lúng túng và rất hạn chế áp dụng dẫn giải.

        2.2 Thủ tục tiến hành biện pháp dẫn giải

        BLTTHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực từ 1/7/2019. Tuy nhiên, đối với các văn bản hướng dẫn biện pháp dẫn giải thì vẫn đang áp dụng theo Quyết định số 1502/2018/QĐ-BCA của Bộ công an.

        Mặc dù, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm 03 chủ thể (bị hại, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố) là đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp dẫn giải. Tuy nhiên, theo quyết định số 1502/2018/QĐ-BCA mới chỉ quy định về thủ tục dẫn giải đối với người làm chứng mà chưa quy định đối với bị hại, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Như vậy, có thể hiểu thủ tục áp dụng dẫn giải với chủ thể còn lại có thực hiện giống như người làm chứng hay không?

        2.3. Khó khăn khi áp dụng biện pháp dẫn giải đối với bị hại

        Có thể nói, bị hại là đối tượng bị xâm hại hoặc đe dọa xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp. Do vậy, nhằm bảo đảm xác định sự thật khách quan của vụ án, Kiểm sát viên khi ra quyết định áp dụng biện pháp dẫn giải với bị hại phải thận trọng và nắm bắt tốt các biểu hiện tâm lý, tránh gây ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

        Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, một số vụ án không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại nhưng bị hại không thực hiện việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền hoặc bị hại từ chối giám định, cố tình không chấp hành quyết định dẫn giải dẫn đến phần nhiều các vụ án đều đi vào bế tắc và đình chỉ vụ án.

        Một số trường hợp, bị hại có thực hiện theo quyết định trưng cầu giám định lần đầu của cơ quan có thẩm quyền, nhưng khi nội dung giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến tình tiết vụ án đã có kết luận giám định trước đó hoặc có căn cứ nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác, theo đề nghị của người tham gia tố tụng (Điều 210, 211 BLTTHS năm 2015) và bị hại không tiến hành giám định lại hoặc giám định bổ sung thì có áp dụng biện pháp dẫn giải đối với bị hại không?

        2.4. Trường hợp áp dụng dẫn giải đối với người giám định, người chứng kiến

        Người giám định là người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực cần giám định, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật. Họ có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (khoản 3 Điều 68 BLTTHS năm 2015).

        Trên thực tế, đối với một số vụ án có nghi ngờ về tính chính xác của kết quả giám định hoặc cần giải thích cụ thể, người có thẩm quyền triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng Giám định viên không đến hoặc từ chối. Ngay cả khi Cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc kiến nghị với Cơ quan giám định nhưng Giám định viên vẫn không có mặt từ đó kéo dài thời gian hoạt động tố tụng, không đảm bảo về mặt thời hạn giải quyết vụ án.

        Người chứng kiến là một trong những người tham gia tố tụng, người được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định. Họ có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (khoản 4 Điều 67 BLTTHS năm 2015).

        Cũng giống như đối với người giám định, đối với một số vụ án có khiếu nại các hoạt động tố tụng có người tham gia chứng kiến, mặc dù cơ quan có thẩm quyền đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng người chứng kiến không có mặt thì hiện nay chưa có biện pháp để giải quyết vấn đề này.

        2.5. Trường hợp chủ thể bị dẫn giải là người dưới 18 tuổi

        Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lý và thể chất. Người dưới 18 tuổi là chủ thể đặc biệt trong hoạt động tố tụng và được BLTTHS quy định tại Chương XVIII.

        Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế như dẫn giải đối với chủ thể là người dưới 18 tuổi, đặc biệt trong trường hợp họ không phải là người bị buộc tội, đòi hỏi Kiểm sát viên phải thật thận trọng, tránh việc làm tổn thương về sức khỏe và tinh thần. Cùng với đó, quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng được thực hiện thông qua người đại diện hoặc người giám hộ, vậy khi tiến hành dẫn giải người dưới 18 tuổi, vai trò của người đại diện, người giám hộ như thế nào? Xử lý thế nào khi tiến hành dẫn giải người dưới 18 tuổi mà người đại diện, người giám hộ của họ không hợp tác hoặc chống đối? Trên thực tế khi áp dụng dẫn giải cơ quan có thẩm quyền thường xuyên gặp phải những trường hợp người đại diện, người giám hộ không thực hiện theo yêu cầu, lúc này họ lại không phải là đối tượng bị áp dụng biện pháp dẫn giải mà chỉ đóng vai trò người giám hộ. Theo đó, những vụ việc như vậy hầu như việc dẫn giải sẽ không thực hiện được.

        3. Những giải pháp, kiến nghị thực hiện hiệu quả biện pháp dẫn giải và kiểm sát hoạt động dẫn giải

        Như đã phân tích ở trên, biện pháp dẫn giải người làm chứng, bị hại, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Do vậy, tác giả xin đề xuất một số kiến nghị và sửa đổi quy định pháp luật nhằm mục đích nâng cao chất lượng khi Kiểm sát viên ra quyết định dẫn giải hoặc tham gia kiểm sát các vụ án hình sự có hoạt động dẫn giải, như sau:

        Thứ nhất, kiến nghị các cơ quan tư pháp Trung ương sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể thủ tục thi hành dẫn giải người làm chứng, bị hại, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Trong hướng dẫn, cần phải nêu rõ vai trò phối hợp không chỉ giữa các cơ quan tư pháp mà còn cần sự liên kết chặt chẽ với Chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi người bị dẫn giải cư trú, học tập, làm việc. Đối với bị hại cũng cần phải có những biện pháp dẫn giải riêng, phù hợp với loại vụ án mà họ bị xâm hại, phù hợp với đối tượng, giới tính…

        Thứ hai, để bảo đảm hoạt động tố tụng được diễn ra bình thường, trong một số vụ án hình sự cần có sự có mặt của ngoài những chủ thể mà BLTTHS năm 2015 đã quy định, nhà làm luật cần bổ sung thêm các chủ thể có thể dẫn giải như: Người giám định, người chứng kiến để giải quyết những trường hợp triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng họ không có mặt. Vì vậy, việc đề nghị người giám định, người chứng kiến là chủ thể của biện pháp dẫn giải là phù hợp. Hơn thế nữa, cần có hướng dẫn số lần cụ thể về việc gửi giấy triệu tập, số lần gửi giấy triệu tập, sau khi kết thúc số lần gửi giấy triệu tập, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác minh xem người bị triệu tập đã nhận được giấy triệu tập hay chưa, nếu chưa sẽ tiến hành gửi lại giấy triệu tập đủ số lần theo quy định. Kết thúc việc gửi giấy triệu tập, các chủ thể không thực hiện theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng thì ra quyết định dẫn giải.

        Thứ ba, đối với vấn đề dẫn giải người dưới 18 tuổi, nhà làm luật cần có quy định riêng khi tiến hành áp dụng dẫn giải, bảo đảm các nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 414 BLTTHS năm 2015. Đề ra các biện pháp trong trường hợp người đại diện, người giám hộ không hợp tác theo yêu cầu dẫn giải của cơ quan có thẩm quyền. Đề xuất chủ thể thi hành hoạt động dẫn giải đối với người dưới 18 tuổi phải được đào tạo các kỹ năng về ứng xử, các thao tác trong trường hợp họ chống cự, nhằm mục đích vừa bảo đảm mục đích dẫn giải lại vừa không làm ảnh hưởng đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của họ.

        Thứ tư, cần thiết bổ sung thêm Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết vụ án là chủ thể có thể thi hành hoạt động dẫn giải. Vì Cơ quan điều tra là chủ thể có thông tin, dữ liệu cụ thể về nội dung của vụ án. Theo đó, họ sẽ hiểu hơn về chủ thể tham gia tố tụng, trong đó có các chủ thể bị dẫn giải. Khi áp dụng thi hành biện pháp dẫn giải họ sẽ là chủ thể có các giải pháp, cách thức áp dụng dẫn giải phù hợp với vụ việc, người bị áp dụng.

Phạm Văn Cường – Kiểm tra viên VKSND huyện Đông Anh

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 294

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 1330533