Quan điểm về xử lý hình sự tội “Cướp tài sản” đối với người đi đòi nợ

30/11/2022 14:06 | 253 | 0

        Hiện nay, có rất nhiều vụ việc xảy ra trong thực tiễn, người đi thu nợ sử dụng vũ lực, hành hung “con nợ” để ép trả nợ thì người đi thu nợ, người bị mất tài sản lại trở thành bị cáo với tội danh “Cướp tài sản” quy định tại Điều 168 BLHS năm 2015. Điều đó đã để lại nhiều băn khoăn, trăn trở cho những người tiến hành tố tụng và dư luận xã hội. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử những vụ việc như vậy, thực tế tất cả chúng ta đều nhận thấy một điều, việc dùng vũ lực, hành hung “con nợ” ép để trả nợ, trả tài sản vốn là của mình hoàn toàn khác với bản chất việc dùng vũ lực để cướp tài sản của người khác. Mặt khác, đối với các vụ án đi đòi nợ, đi đòi tài sản thuê, cho mượn thì quan hệ sở hữu tài sản là một vấn đề còn có nhiều ý kiến trái chiều liên quan đến định tội danh. Thực tế sẽ có trường hợp tài sản đó là của chính người đi đòi bị con nợ cố tình không trả hoặc cố tình chiếm giữ chứ không phải là tài sản của con nợ hoặc tài sản của người khác. Khách thể của hành vi cướp tài sản và hành vi đòi nợ trái pháp luật trong những trường hợp này về bản chất là khác nhau.

        Xét về nguyên nhân, động cơ và mục đích phạm tội thì tội “Cướp tài sản” là mong muốn chiếm đoạt tài sản của người khác trái pháp luật, trong khi đó người đi đòi nợ có lý do chính đáng vì tài sản con nợ chiếm giữ có thể là tài sản của người đi đòi nợ, cái sai của người đi đòi là dùng vũ lực để đòi nợ, trở thành “cướp tài sản” của chính mình. Nếu các cơ quan và người tiến hành tố tụng chỉ nhìn vào hình thức biểu hiện của hành vi mà không xem xét rõ bản chất của sự việc thì sẽ không tránh khỏi việc xảy ra oan sai trong quá trình định tội danh.

        Nhìn nhận từ một vụ án thực tế: Ngày 21/7/2019, anh Nguyễn Hoàng A vay Nguyễn Huy Q 16.000.000 đồng, hẹn trong 02 ngày trả nhưng anh A không thực hiện. Khoảng 21 giờ ngày 29/7/2019, Q ngồi uống rượu với anh Nguyễn Đức A và anh Phạm Văn N trong lán tại bãi xe ở quận T, Q gọi điện thoại cho anh A bảo ra bãi xe để nói chuyện về khoản nợ. Khoảng 5 phút sau, anh A ra đến nơi và thấy bên cạnh Q có 01 đoạn gỗ dài khoảng 60 cm nên anh A không đi vào trong lán. Q hỏi anh A: “… mẹ mày có trả tiền không, để tao còn biết”. Anh A nói: “Em có trả chứ không phải không trả, em không trốn”, thấy anh A không trả tiền mà lại có thái độ nên Q bực tức, cầm đoạn gỗ dưới gầm bàn lao ra định đánh anh A thì anh A, anh N (bạn Q ngồi uống rượu cùng) can ngăn, anh N giằng được đoạn gỗ trên tay Q nên bị Q chửi, bóp cổ. Anh A sợ nên bỏ chạy và gọi chị Nguyễn Thị Hồng Ng xin giúp đỡ. Thấy anh A bỏ chạy và gọi người nhà đến, Q đi vào trong lán lấy một con dao quắm dài khoảng 60 cm đuổi theo anh A. Khi đến số nhà 89 quận T, Q đuổi kịp và đứng cách anh A 1,5m, tay phải Q cầm con dao quắm giơ ra phía trước mặt anh A nói: “Bao giờ mày trả tao tiền, mày trả tao không thì nói tao một câu, nếu không trả được, xin tao thì tao cho”, chị Ng và người dân đứng xung quanh anh A để can ngăn. Khi hai bên đang nói chuyện thì bạn của Q đi đến giằng được con dao quắm. Chị Ng bảo Q và anh A về nhà nói chuyện về khoản nợ, Q đồng ý. Tại nhà anh A, Q bảo: “Mày vay tiền rồi hẹn 1 đến 2 ngày trả, mà giờ mày bảo trả 1 đến 2 triệu đồng thì trả để làm gì, nếu mày khó khăn thì mày xin anh cho”. Anh A nói xin thì Q không nói gì rồi đi về. Sau đó, do thấy bực tức về việc Q đe dọa đòi nợ mình nên anh A đến cơ quan công an trình báo sự việc.

        Toà án nhân dân huyện T xét xử Nguyễn Huy Q về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 BLHS.

        Dựa theo nội dung vụ án, quan điểm của tác giả không đồng ý với Toà án nhân dân huyện T xét xử bị cáo Q về tội “Cướp tài sản". Bởi vì theo quy định tại Điều 168 BLHS, hành vi phạm tội phải thỏa mãn hai dấu hiệu bắt buộc là có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự và phải có mục đích chiếm đoạt tài sản. Trong vụ án này, hành vi của Q chỉ thỏa mãn một dấu hiệu đó là dùng vũ lực đối với anh A, nhưng không thỏa mãn dấu hiệu nhằm chiếm đoạt tài sản. Ban đầu bị cáo dùng gậy định đánh anh A là do bực tức việc anh A nợ tiền nhưng lại có thái độ thách thức, không nhún nhường; bị cáo dùng dao quắm đe dọa vì mục đích tự vệ khi biết anh A gọi người nhà đến; hành vi của bị cáo chưa làm cho bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự được (bị cáo đứng cách bị hại 1,5m, phía bị hại có người nhà và người dân đứng vây quanh); bị cáo không có ý định chiếm đoạt tiền của anh A mà chỉ hỏi về khoản nợ vay trước đó đã đến hạn nhưng không trả; đồng thời, sau đó bị cáo còn cho bị hại số tiền nợ khi bị hại xin. Từ những nhận định trên cho thấy chưa đủ căn cứ để xác định mục đích chiếm đoạt tài sản của bị cáo.

        Rõ ràng, tính chất, mức độ của hành vi đòi nợ trái pháp luật và hành vi cướp tài sản trên thực tế là khác nhau; nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội cũng khác nhau. Do đó, đối với những vụ việc như vậy, tác giả nhận thấy, để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng và xử lý một cách thống nhất trong thực tiễn, các cơ quan lập pháp cần sớm nghiên cứu, bổ sung một tội danh riêng và độc lập trong BLHS là tội “Đòi nợ trái pháp luật”, trong đó cần nêu rõ dấu hiệu cấu thành của tội phạm này. Hoặc cũng có thể bổ sung trong tội “Cướp tài sản” quy định tại Điều 168 BLHS một khung hình phạt riêng về hành vi cướp tài sản xuất phát từ đòi nợ trái pháp luật để tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà các đối tượng phạm tội gây ra./.

                                                          Lê Thị Thu Hương - Phòng 7, Viện KSND thành phố Hà Nội

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 180

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 1081080