Một số kinh nghiệm về xác định tội danh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự

30/11/2022 11:16 | 214 | 0

        Từ năm 2018 đến ngày 31/5/2022, Toà án sơ thẩm hai cấp của Hà Nội đã xét xử tổng số 30.627 vụ án/53.691 bị cáo; Toà án phúc thẩm xét xử tổng số 4.645 vụ án/6.640 bị cáo. Trong các vụ án đã xét xử sơ thẩm, Viện KSND hai cấp kháng nghị tổng số 264 vụ án/457 bị cáo = 0,87% số vụ án/0,85% số vụ sơ thẩm đã xét xử (chủ yếu kháng nghị liên quan đến đường lối xét xử). Mặc dù, số lượng án hình sự các  đơn vị cấp huyện và cấp phòng xét xử sơ thẩm lớn nhưng số lượng án bị Tòa án cấp trên hủy, án trái quan điểm, án thỉnh thị liên quan đến tội danh chiếm tỷ lệ không đáng kể. Góp phần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác THQCT, KSĐT, KSXX các vụ án hình sự, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ án hình sự bị huỷ do xác định tội danh không đúng, tác giả xin đưa ra một số kinh nghiệm trong công tác định tội danh để đồng nghiệp cùng tham khảo.

        1. Nắm vững cấu thành tội phạm cơ bản của từng loại tội danh và xem xét các yếu tố cấu thành tội phạm trong một thể thống nhất khi định tội danh

        Quá trình điều tra cần xem xét, kiểm tra, so sánh, đối chiếu hành vi của bị cáo có chứa đựng đầy đủ các yếu tố của cấu thành tội phạm tương ứng hay không, lần lượt từ khách thể (quan hệ xã hội mà tội phạm xâm hại), mặt khách quan (hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả xảy ra), chủ thể (cá nhân, pháp nhân thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, có năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS - với các chủ thể đặc biệt thì còn phải xem xét các đặc điểm đặc thù), mặt chủ quan (dấu hiệu lỗi, động cơ, mục đích phạm tội) của tội phạm, chỉ khi có sự đồng nhất giữa chúng thì trách nhiệm hình sự của chủ thể thực hiện hành vi đó mới được đặt ra. Sự đồng nhất này phải là khách quan, dứt khoát chứ không phải là sự suy đoán, biểu lộ ý chí chủ quan của cá nhân. Nếu có nhiều dạng hành vi thì kiểm tra dạng hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm gần với hành vi được thực hiện trong vụ án.

        Ví dụ 1: Vụ án Nguyễn Thị H + đồng phạm bị xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”: Nguyễn Thành X là “chủ đề”, tổ chức đánh bạc dưới hình thức nhận số lô đề dựa trên kết quả Xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng hàng ngày. Nguyễn Thị H là 01 trong những thư ký cho X, ghi lô đề của những người đánh bạc, sau đó chụp bảng lô đề gửi qua mạng xã hội Zalo cho X để hưởng hoa hồng. Ngày 25/7/2017, H nhận số lô đề của các đối tượng đánh bạc với tổng số tiền 26.271.000 đồng. Ngày 26/7/2017 (chưa có kết quả mở thưởng) xác định H nhận số lô đề của các đối tượng đánh bạc với tổng số tiền 16.138.000đ. H được hưởng lợi 812.000đ. Trong các ngày 25 và 26/7, H chỉ có hành vi nhận số lô đề của các con bạc, trong đó có 01 ngày số tiền đánh bạc 26.271.000 đồng đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 BLHS. Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử H về 02 tội: “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” vì cho rằng có 01 ngày số tiền đánh bạc < 20.000.000 đồng là không đánh giá đúng bản chất hành vi phạm tội của bị cáo.

        Ví dụ 2: vụ án Trịnh Quốc P: bị cáo P khai nhận hành vi tàng trữ 28,981gam ma túy MDMA để bán còn 16,320gam ma túy Ketamine CQĐT thu giữ tại nhà bị cáo là để sử dụng; riêng ngày 14/12/2020, P nhờ A đi giao ma tuý thì khách có nhu cầu mua thêm Ketamine nên mới bán 1,261gam kèm 1,291gam MDMA. Bị cáo P khai ma tuý Ketamine chỉ để sử dụng song thực tế ai có nhu cầu mua thì bị cáo vẫn bán. Bản chất hành vi của P chỉ cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã tách khối lượng 16,320gam Ketamine để truy tố, xét xử thêm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 1 Điều 249 BLHS đối với P là không đánh giá đúng hành vi khách quan của bị cáo. 

        2. Định hướng điều tra về tội danh ngay từ giai đoạn tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và bắt giữ đối tượng phạm tội.

        Trong trường hợp người bị bắt, người bị khởi tố không nhận tội, tài liệu chứng cứ chưa rõ hoặc có mâu thuẫn giữa lời khai và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, thì trước khi xem xét phê chuẩn, KSV phải trực tiếp lấy lời khai người bị bắt, hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị hại, nhân chứng để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm việc phê chuẩn khởi tố, từ đó định hướng về tội danh, định hướng điều tra, xem xét vai trò đồng phạm...được toàn diện.

        Ví dụ 1: vụ án Nguyễn Thị C bị xét xử về tội “Vô ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 138 BLHS (án bị cấp phúc thẩm hủy năm 2020): trong vụ án này, bị cáo C không thừa nhận việc mình cố ý gây thương tích cho bà T. Tuy nhiên, quá trình điều tra, những người làm chứng đều khẳng định nhìn thấy bị cáo dùng hai tay đẩy về phía bà T làm bà T bị ngã. Lời khai của bà T phù hợp lời khai của những người làm chứng, với giấy chứng nhận thương tích và kết quả giám định thương tật của bà T, có cơ sở xác định C đã có hành vi dùng tay đẩy bà T khiến bà T bị ngã gây tổn hại sức khỏe là 40%. Hành vi của bị cáo có dấu hiệu cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cấp sơ thẩm qua điều tra, truy tố, xét xử, định hướng tội danh bị cáo về tội “Vô ý gây thương tích” không đúng dẫn đến điều tra không đầy đủ, đánh giá chứng cứ chưa toàn diện.

        Ví dụ 2: vụ án Phùng Đức A và đồng phạm bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 BLHS (án hủy năm 2020): trong vụ án này các bị cáo Đức A và T biết bị cáo H mua bán trái phép chất ma tuý. Đức A và T còn là người trực tiếp cung cấp ma tuý cho H để bán (Đức A mua và phân chia, T giúp sức cho Đức A mang đến cho H bán). H nhận ma tuý từ Đức A và T để bán không cần hỏi giá bán bao nhiêu, điều đó cho thấy giữa các bị cáo đã có sự thống nhất về việc mua bán ma tuý nên việc H bán ma tuý cho ai? số lượng, số lần bán như thế nào? (thuốc do Đức A và T đưa) thì Đức A và T phải cùng chung hậu quả với H. Vì vậy, Đức A và T có vai trò đồng phạm với bị cáo H theo điểm c khoản 2 Điều 251 BLHS. Cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, chưa định hướng, đánh giá được triệt để các chứng cứ của vụ án, dẫn đến việc truy tố, xét xử các bị cáo Đức A và T theo khoản 1 Điều 251 BLHS không đúng.

        3. Đánh giá đúng nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo để xác định đúng tội danh

        Nhất là đối với một số hành vi cấu thành các tội dễ gây nhầm lẫn, như: để phân biệt giữa tội Giết người chưa đạt và tội Cố ý gây thương tích, căn cứ hung khí được sử dụng; hành vi khách quan của bị can; vị trí dấu vết thương tích để lại trên thân thể của nạn nhân, mức độ, cường độ tấn công nạn nhân; số lượng vết thương, hậu quả thương tích... từ đó, xác định động cơ gây án của người phạm tội có nhằm tước đoạt tính mạng nạn nhân hay không. Các vị trí được xác định là vùng trọng yếu trên thân thể người, gồm: Vùng đầu, gáy, cổ và vùng ngực... 

        Ví dụ 1: Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, Đ đã cố ý dùng dao nhọn bằng kim loại đâm 01 nhát vào vùng ngực phải của anh A. Mặc dù đã được can ngăn nhưng Đ vẫn tiếp tục đâm 03 nhát về phía anh A, trúng vào cánh tay trái, vùng đùi trái, cẳng chân trái anh A. Đ chỉ dừng lại khi bị người khác can ngăn, tước dao... Hành vi của Đ cầm dao đâm vào vùng trọng yếu của thân thể và thể hiện tính quyết liệt cao trong việc tước đoạt tính mạng. Anh A không tử vong nằm ngoài ý thức chủ quan của Đ. Hành vi của Đ đã cấu thành tội “Giết người” theo Điều 123 BLHS. Cấp sơ thẩm khởi tố đối với Đ về tội “Cố ý gây thương tích” là chưa đánh giá hết động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo.

        Ví dụ 2: B đã dùng 01 con dao lam cắt 03 nhát liên tục vào vùng cổ (là vùng trọng yếu) của T, gây ra các thương tích dài và sâu ở vùng cổ của T. Do được cấp cứu và điều trị kịp thời nên T không bị tử vong mà bị thương tích tỷ lệ 07%. Việc T không bị tử vong nằm ngoài ý muốn chủ quan của B. Hành vi của B phạm tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 BLHS. Cấp sơ thẩm khởi tố đối với B về tội “Cố ý gây thương tích” là không phù hợp, không đánh giá hết động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo.

        4. Kiểm sát viên phải nắm chắc các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, các văn bản hướng dẫn và Quy chế của Ngành; phải hiểu rõ tinh thần của điều luật, hiệu lực của văn bản, thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật và quy chế của Ngành. Kiểm sát viên phải đáp ứng được yêu cầu về năng lực, trình độ; có tinh thần trách nhiệm trong công tác, làm đúng chức trách, nhiệm vụ được giao, giữ vững phẩm chất, đạo đức của người cán bộ Kiểm sát; không ngừng học tập, nghiên cứu, cập nhật các văn bản hướng dẫn mới, các thông báo rút kinh nghiệm của cấp trên để nâng cao trình độ, kinh nghiệm. Công tác “tự đào tạo” được Viện KSND Thành phố coi trọng và cũng là nguyên nhân giúp nâng cao chất lượng kiểm sát điều tra, nhất là trong việc định tội danh đối với các vụ án hình sự.

        Ví dụ qua việc cần hiểu đúng các quy định của pháp luật và hướng dẫn của cấp trên liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: Quá trình áp dụng Điều 185 BLHS năm 1985 đối với hành vi các đối tượng nghiện ma tuý cung cấp ma tuý cho những đối tượng nghiện ma tuý khác cùng sử dụng đều bị truy tố, xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. BLHS năm 1999 và Thông tư liên tịch số 17/2007 ngày 24/12/2007, mục 6 phần II đã hướng dẫn đối với hành vi các đối tượng nghiện ma tuý tự tổ chức cùng nhau sử dụng thì không xử lý về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” mà xem xét, xử lý về các tội phạm khác nếu đủ yếu tố cấu thành.

        Công văn số 89 của TAND tối cao (mục 1 phần I) được ban hành ngày 30/6/2020, theo đó hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng có đồng phạm nhưng đồng phạm ở đây được hiểu là thực hiện theo sự chỉ huy, phân công điều hành (không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, không bắt buộc phải có sự phân công, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ trong các đồng phạm). Do đó, hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng là một trong các hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Người có hành vi này bị xử lý theo quy định tại Điều 255 BLHS.

        5. Khi có vướng mắc, nhất là đối với các vụ án phức tạp, dấu hiệu cấu thành tội phạm không rõ ràng, khó xác định tội danh, chủ động phối hợp liên ngành, tham khảo ý kiến cấp trên để thống nhất đường lối giải quyết trước khi quyết định các hoạt động tố tụng.

        6. Chú trọng khâu công tác hướng dẫn và rút kinh nghiệm nghiệp vụ đối với những vi phạm, thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật của cấp dưới bằng các hình thức khác nhau như: rút kinh nghiệm vụ việc hoặc rút kinh nghiệm tổng hợp, rút kinh nghiệm trực tiếp qua dự các phiên tòa,…để hướng dẫn kịp thời, đảm bảo cho việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật và việc vận dụng pháp luật được thống nhất, nghiêm minh.

Phòng 7

 

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 174

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 1081074