Một số ý kiến về vấn đề xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội đã được đăng ký giao dịch bảo đảm trong các vụ án hình sự

13/09/2022 14:26 | 198 | 0

        Theo Điều 89 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 thì vật chứng là “Vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. So với các loại nguồn chứng cứ khác, vật chứng là chứng cứ vật chất có giá trị chứng minh cao nhất, hiệu quả nhất bởi vì chúng không bị chi phối bởi các yếu tố tình cảm, tâm lý như các loại nguồn chứng cứ khác. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc xử lý vật chứng được đặt ra ngay từ giai đoạn điều tra đến khi kết thúc việc xét xử. Theo điểm a khoản 2, Điều 106 BLTTHS năm 2015 thì: “Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy”. Quy định về xử lý vật chứng này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng giúp cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập, bảo quản, xử lý vật chứng, phục vụ cho việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, việc xác định nguồn gốc hình thành cũng như tình trạng pháp lý của vật chứng để từ đó có căn cứ xử lý vẫn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với những vật chứng có giá trị lớn, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm rất dễ xảy ra tranh chấp khi Cơ quan tiến hành tố tụng xử lý vật chứng.

        Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm thì đăng ký giao dịch bảo đảm là việc cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm ghi vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm. Do đó, thông qua đăng ký giao dịch bảo đảm, Nhà nước công nhận một tình trạng đã được bảo đảm cho một nghĩa vụ hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự nhất định từ đó có thể xác định được thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm đối với các chủ nợ có bảo đảm bằng một tài sản.

        Quá trình áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hình sự thời gian qua cho thấy việc xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội đã được đăng ký giao dịch bảo đảm từ khi BLTTHS năm 1988 đến nay mới chỉ có một số văn bản pháp luật hướng dẫn về vấn đề này như: Thông tư liên tịch số 06/1998/TTLT ngày 24/10/1998 của Liên ngành Tư pháp Trung ương hướng dẫn một số vấn đề về bảo quản và xử lý tài sản là vật chứng, tài sản bị kê biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự (TTLT số 06); Ngoài ra còn có một số văn bản hướng dẫn khác có liên quan đến vấn đề này như Nghị định số 21/2021/NĐ-CP của Chính phủ Quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 và Nghị định số 85/2002/NĐ-CP ngày 25 tháng 10 năm 2002 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng… Trải qua hơn 30 năm kể từ khi thi hành BLTTH đầu tiên, TTLT số 06 vẫn là văn bản hướng dẫn duy nhất, cụ thể nhất liên quan đến việc xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội đã được đăng ký giao dịch bảo đảm trong các vụ án hình sự, đến nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào được ban hành để thay thế TTLT này. BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định của BLTTHS năm 2003, tuy nhiên các quy định về xử lý vật chứng được quy định tại Điều 106 hầu như được giữ nguyên về mặt nội dung, chỉ có sự thay đổi nhỏ về mặt kỹ thuật lập pháp dẫn đến chất lượng, hiệu quả trong việc giải quyết các vụ án hình sự còn chưa cao, trong đó vấn đề xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ở nhiều địa phương còn chưa thống nhất, bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả giải quyết vụ án hình sự cũng như bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.

        Trước những yêu cầu đổi mới của cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay về minh bạch, hiệu quả, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích tối đa của các chủ thể tham gia tố tụng hình sự, trong phạm vi bài viết này, tác giả muốn đề cập đến vấn đề xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại các tổ chức tín dụng thông qua một vụ án hình sự cụ thể: Ngày 21/9/2018, Nguyễn Văn A điều khiển xe ô tô Mazda CX5 đến khu vực xã X, huyện Y, tỉnh Z mua 100kg Pháo hoa với mục đích về bán lại kiếm lời, trên đường vận chuyển về thì bị lực lượng công an bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng cùng phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra xác định chiếc xe Mazda CX5 là tài sản chung của vợ chồng A, đã được A thế chấp bằng tiền vay tại Ngân hàng C với giá trị hợp đồng là 500 triệu đồng từ ngày 01/01/2018 và đã được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật.

        Quá trình giải quyết vụ án, có nhiều quan điểm khác nhau về việc xử lý vật chứng là chiếc xe ô tô Mazda CX5 như sau:

        Quan điểm thứ nhất: Xe ô tô này là tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ chồng A được xác định là phương tiện phạm tội, A dùng xe ô tô làm phương tiện phạm tội, thì áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015 tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước (nếu vợ A biết A dùng xe ô tô này làm phương tiện phạm tội). Tịch thu ½ giá trị xe để sung vào ngân sách Nhà nước, trả lại cho vợ của A ½ giá trị xe ô tô tính tại thời điểm hoàn thành việc bán đấu giá (nếu vợ A không biết A dùng xe ô tô làm phương tiện phạm tội). Việc thế chấp chiếc xe ô tô tại Ngân hàng C không làm mất đi quyền sở hữu của A khi A dùng làm phương tiện phạm tội thì xử lý theo quy định của pháp luật.

        Quan điểm thứ hai: Xe ô tô là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng Nguyễn Văn A nhưng đã được thế chấp hợp pháp tại Ngân hàng C. Do đó, áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015 tịch thu xe ôtô, giao cho Ngân hàng C hoặc Cơ quan thi hành án bán đấu giá để thu hồi số tiền vay theo Hợp đồng thế chấp tài sản và tiền lãi (Trường hợp vợ A không biết A dùng xe ô tô này làm phương tiện phạm tội). Số tiền bán xe ôtô sau khi thanh toán tiền vay, lãi phát sinh và chi phí bán đấu giá còn lại (nếu còn) sẽ được chia đôi, trả cho vợ A ½ số tiền và tịch thu sung vào ngân sách nhà nước ½ số tiền (phần của sở hữu của A). Trường hợp vợ A biết A dùng xe ô tô này làm phương tiện phạm tội thì toàn bộ số tiền còn lại sẽ tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

        Tác giả cho rằng, trong vụ án này, Nguyễn Văn A phải gánh chịu các hậu quả pháp lý (trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự) về hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, việc xem xét, quy buộc các trách nhiệm pháp lý cho A sẽ thiếu tính toàn diện, tính thuyết phục nếu chỉ vì A có hành vi phạm tội để áp dụng Điều 106 BLTTHS năm 2015 xử lý tịch thu tài sản sung vào ngân sách nhà nước mà bỏ qua mọi quan hệ pháp luật đã được xác lập theo đúng quy định pháp luật, đã phát sinh hiệu lực, xâm hại lợi ích hợp pháp, ngay tình của cá nhân, tổ chức khác. Xét về lỗi, việc Nguyễn Văn A thế chấp tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm thì chiếc ô tô vẫn thuộc quyền quản lý, khai thác, sử dụng của A, phía ngân hàng C chỉ quản lý giấy tờ là chứng thư sở hữu tài sản, do đó quá trình Nguyễn Văn A sử dụng chiếc ô tô làm phương tiện phạm tội ngoài phạm vi kiểm soát của ngân hàng và ngân hàng không có lỗi trong trường hợp này, vì vậy ngân hàng không thể là bên phải gánh chịu rủi ro mà mình đã phòng ngừa bằng biện pháp luật định. Nếu tịch thu chiếc xe ô tô của A để sung ngân sách nhà nước sẽ đẩy các khoản nợ vay có tài sản bảo đảm hợp pháp của A tại ngân hàng C trở nên vô nghĩa bởi khoản nợ vay này đã trở thành các khoản nợ không có tài sản bảo đảm. Giao dịch bảo đảm trên thực tế cũng không có giá trị trong khi ngân hàng đã làm đúng, đầy đủ các quy định pháp luật trong việc bảo toàn vốn vay nhưng kết quả đưa lại chính ngân hàng phải gánh chịu rủi ro vốn mà bản thân ngân hàng không thể lường trước được. Vô hình chung ngân hàng bị tước mất quyền lợi của mình đối với số tiền cho vay có thế chấp. Vậy, ai là người gánh chịu rủi ro này của ngân hàng?

        Theo Điều 94 và 95 Luật các tổ chức tín dụng, Ngân hàng có quyền cấp tín dụng cho cá nhân, tổ chức đủ điều kiện và cũng có quyền thực hiện các thủ tục để bảo toàn vốn cho vay bằng việc nhận thế chấp tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm. Khoản 2, Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng đối với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký” và theo Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 thì thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm là thời điểm nội dung đăng ký được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm trong trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tài sản là động sản. Do vậy, hợp đồng vay có thế chấp bằng tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm của ngân hàng C và Nguyễn Văn A là sự thỏa thuận tự nguyện, hợp pháp, ngay tình và có giá trị hiệu lực pháp lý đối với hai bên và đối kháng với bên thứ ba.

        Theo pháp luật hình sự, vật chứng là phương tiện phạm tội sẽ bị tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước trừ trường hợp chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp không có lỗi thì được trả lại. Đối với vật chứng là phương tiện phạm tội đã được thế chấp mặc dù không làm mất đi quyền sở hữu của người thế chấp nhưng xét trong tổng thể các quan hệ xã hội thì việc xử lý vật chứng của vụ án hình sự phải trong mối quan hệ cơ hữu với các lĩnh vực pháp luật khác, mà cụ thể ở đây là pháp luật dân sự liên quan đến hợp đồng vay tài sản có thế chấp và giao dịch đăng ký tài sản bảo đảm. Chính vì vậy, việc xử lý vật chứng như thế nào để vừa góp phần giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả vừa đảm bảo quyền lợi của chủ thể khác có liên quan là rất quan trọng, cần được thống nhất thực hiện. Tuy nhiên, đến nay chỉ tại mục II.3.a TTLT số 06 có quy định về xử lý tài sản là phương tiện được thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán, theo đó căn cứ quyết định, bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án tiến hành xử lý bán đấu giá tài sản. Số tiền bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, nhận thế chấp hợp pháp sau khi trừ các chi phí cho việc bảo quản, khai thác, sử dụng và chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá; phần còn lại để thi hành án. Quy định này mang tính thực tiễn rất cao, có tính đến và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan, phù hợp với nguyên tắc bảo vệ hiệu lực của chế định bảo đảm nghĩa vụ dân sự và bảo đảm tính thống nhất của pháp luật.

        Các quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực nào cũng phải được tôn trọng, do vậy trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các Cơ quan tiến hành tố tụng nếu chỉ áp dụng pháp luật hình sự mà bỏ qua các quy định pháp luật trong lĩnh vực khác là thể hiện sự mất cân bằng trong việc nhìn nhận, đánh giá về mặt giá trị pháp lý giữa các quy phạm với nhau về cùng một vấn đề. Tuy nhiên việc tiếp cận và hiểu quy định này trong thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự hiện nay vẫn còn những điểm mắc, đó là tính hiệu lực của văn bản pháp lý. Đa phần điều hiểu rằng quy định này là phù hợp nhưng cái khó của những người tiến hành tố tụng là “sự an tâm” trong việc áp dụng tinh thần văn bản pháp luật hướng dẫn cũ, với tâm lý e ngại về trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng đã dẫn đến việc không vận dụng các quy định này để đảm bảo “tính an toàn” trong từng quyết định. Bên cạnh đó, hạn chế lớn nhất của người tiến hành tố tụng hiện nay là việc vận dụng các quy định của pháp luật dân sự vào thực tiễn vụ án hình sự còn rất hạn chế, do đó để vấn đề này được giải quyết thì rất cần một giải pháp mang tính kịp thời đó chính là cần tái lập một văn bản hướng dẫn cụ thể về xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội đã được đăng ký giao dịch bảo đảm trên cơ sở kế thừa tính hợp lý nội dung TTLT số 06, qua đó tạo cơ sở pháp lý an toàn cho các giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại, điều mà các quy định của BLHS và BLTTHS hiện nay chưa thể cụ thể hoá được.

        Mặc dù là văn bản hướng dẫn việc xử lý vật chứng của BLHS năm 1985 và BLTTHS năm 1988, tuy nhiên đến nay chưa có văn bản pháp luật nào thay thế và nội dung TTLT số 06 phù hợp với quy định về xử lý vật chứng trong BLHS, BLTTHS năm 2015 cũng như tương thích, nhất quán với các quy định của pháp luật dân sự về giao dịch bảo đảm nên thiết nghĩ các Cơ quan tiến hành tố tụng cần vận dụng khoa học những nội dung hợp lý của TTLT số 06 trong việc xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội đã được đăng ký giao dịch bảo đảm đối với các vụ án hình sự hiện nay cho đến khi có văn bản mới được ban hành.

        Chính vì vậy, khi tiến hành xử lý vật chứng là tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm cần được xem xét thấu đáo, hợp lý, nhất là khi chiểu theo nguyên tắc cơ bản của các quy định pháp luật hiện hành thì phải bảo đảm được tính công bằng về quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước - Chủ sở hữu tài sản - Bên nhận bảo đảm.

Thiều Văn Thịnh - Viện KSND huyện Sóc Sơn

Công văn 2461 ngày 09/9/2022 về việc triển khai tham gia bình chọn video clip cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về ứng xử trên môi trường mạng” trên địa bàn Thành phố
CV số 2389 ngày 25/8/2022 của Viện KSND TP Hà Nội v/v phát động phong trào học tập gương dũng cảm của 03 Liệt sỹ hy sinh trong vụ cháy tại quận Cầu Giấy
Lịch tiếp công dân của Lãnh đạo Viện KSND thành phố Hà Nội từ ngày 01/6/2022 đến ngày 31/12/2022
Viện KSND thành phố Hà Nội thông báo về việc chuyển trụ sở làm việc
Thông báo số 102/TB-VKSTC của Viện KSND tối cao về việc tuyển dụng công chức ngành KSND năm 2021
Kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua đặc biệt "Toàn dân đoàn kết, chung sức thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch Covid-19" trên địa bàn thành phố Hà Nội
Công văn số 2159/VKS-VP của Viện KSND TP Hà Nội về việc triển khai đợt cao điểm (từ ngày 21/9 đến ngày 15/11/2021) tham gia Cuộc thi ảnh “Nét đẹp cán bộ, công chức ngành Kiểm sát”
Công văn số 1216/VKS-VP ngày 06.9.2021 v/v tiếp tục triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19
Công văn v/v triển khai, hưởng ứng tham gia cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu pháp luật trong phòng, chống dịch Covid-19”
Thông báo của Ban sơ tuyển thí sinh đăng ký xét tuyển vào trường Đại học Kiểm sát Hà Nội năm 2021

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 99

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 1040099