Hoàn thiện một số quy định của pháp luật hình sự trong bối cảnh hiện nay

15/04/2022 15:33 | 287 | 0

        Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4.0) được hình thành trên sự cải tiến của cuộc cách mạng số, với đặc trưng là “sự kết hợp các công nghệ giúp xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học[1]. Trong các lĩnh vực chịu sự tác động của CMCN4.0 có lĩnh vực pháp luật và hiện nay quá trình áp dụng các quy định của pháp luật, bước đầu đã phát sinh những khó khăn, vướng mắc, đơn cử như về sự thay đổi không gian của các quan hệ pháp luật hoặc sự thay đổi về thời gian, chủ thể của các quan hệ pháp luật… Bên cạnh đó, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam là thành viên của nhiều điều ước quốc tế có liên quan đến lĩnh vực hình sự, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương[2], Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; và nhiều điều ước song phương như các hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự; các hiệp định về dẫn độ; hiệp định về chuyển giao người bị kết án phạt tù; hiệp định về hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm;… Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn nêu trên, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, chỉ đạo như: Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc CMCN4.0; Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN lần thứ tư và Quyết định số 2289/QĐ-TTg ngày 31/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về CMCN lần thứ tư đến năm 2030… Trong đó, một trong những nhiệm vụ đề ra là rà soát, hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Từ các lý do nêu trên, nhóm tác giả nghiên cứu đánh giá về tình hình thực tiễn tội phạm và vi phạm pháp luật hình sự, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật. Bài viết tập trung chủ yếu đánh giá các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017) (sau đây viết tắt là BLHS năm 2015).

        1. Thực tiễn tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật hình sự

        1.1. Về khái niệm “tội phạm xuyên quốc gia”

        Tính đến hiện nay, Việt Nam là thành viên của các công ước của Liên Hợp quốc về phòng, chống ma túy, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống tham nhũng và Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa các nước ASEAN. Đồng thời, Việt Nam đã ký kết 12 hiệp định tương trợ tư pháp chung bao gồm cả lĩnh vực dân sự và hình sự, 11 hiệp định chuyên biệt tương trợ tư pháp về hình sự và 14 hiệp định chuyên biệt về dẫn độ tội phạm với các nước trên thế giới[3]. Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam, Bộ Công an Việt Nam đã ký kết với Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Nội vụ của các nước trên thế giới các hiệp định, thỏa thuận quốc tế về hiệp định, văn bản thỏa thuận liên quan đến phòng, chống tội phạm nói chung, phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia nói riêng... Nội dung các điều ước quốc tế nêu trên là cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan có thẩm quyền điều tra thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế trong điều tra tội phạm xuyên quốc gia. Tuy nhiên, trong thực tiễn điều tra tội phạm này, các cơ quan có thẩm quyền vẫn còn gặp phải một số khó khăn, dẫn đến hiệu quả các hoạt động điều tra, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật. Cụ thể: pháp luật Việt Nam chưa giải thích cụ thể thuật ngữ “tội phạm xuyên quốc gia”. Trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chỉ có Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 có đề cập đến thuật ngữ “tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia” khi đưa ra quy định về thẩm quyền điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an[4], Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng[5]. Tuy nhiên, thuật ngữ “tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia” nói riêng, “tội phạm xuyên quốc gia” nói chung chưa được giải thích trong Luật này. Điều đó đã dẫn đến có những cách hiểu và quan điểm khác nhau về tội phạm xuyên quốc gia cũng như việc vận dụng vào thực tiễn điều tra tội phạm này cũng có sự khác nhau giữa các chủ thể có thẩm quyền.

        1.2. Về nơi thực hiện tội phạm

        So với BLHS năm 2005 thì BLHS năm 2015 đã bổ sung khoản 1 Điều 5 gián tiếp đề cập đến nơi thực hiện tội phạm. Theo đó, “quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam”. Tuy nhiên, để ứng phó trước thách thức CMCN 4.0, có sự xuất hiện của các hành vi phạm tội mang tính “phi biên giới”, không bó hẹp trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, như đã phân tích tại mục 1.1 của bài viết. Do đó, nhóm tác giả cho rằng, quy định tại khoản 1 Điều 5 BLHS năm 2015 nêu trên vẫn chưa bao quát một số trường hợp xảy ra như trường hợp có đồng phạm, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt… diễn ra tại các địa điểm khác nhau.

        1.3. Về chủ thể của tội phạm

        Trí tuệ nhân tạo (AI) - một lĩnh vực công nghệ nền tảng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, AI có thể được mô tả ngắn gọn là khoa học làm cho máy móc trở nên thông minh, để có thể thực hiện các nhiệm vụ thường đòi hỏi trí thông minh của con người. AI có vai trò “góp phần quan trọng tạo bước phát triển đột phá về năng lực sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế tăng trưởng bền vững”. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu mà sự phát triển của AI đem lại, cũng có những vấn đề pháp lý đặt ra xuất phát từ chính sự ưu việt mà AI có. AI ngày càng có khả năng tư duy, trí tuệ, cảm xúc và hành động độc lập, toàn diện hơn con người, thậm chí đòi khả năng bình đẳng như con người. Thậm chí, AI có thể thực hiện các nhiệm vụ chính xác giống nhau mà không cần có con người tham gia. Tuy nhiên, sẽ có trường hợp do nhiều yếu tố mà AI có thể hành động lệch chuẩn, xâm phạm an ninh, trật tự xã hội và quyền con người mà pháp luật hình sự đã thiết lập, bảo vệ. Ví như, AI có khả năng giả dạng con người dẫn đến tiếp tay cho việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay AI có thể đọc được suy nghĩ của con người dẫn đến đe dọa đến sự an toàn cho con người ... Do đó, “một thực thể trừu tượng được tạo ra bởi pháp luật như pháp nhân thì sự ghi nhận tương tự có lẽ cũng sớm được đặt ra đối với những cỗ máy mang trí tuệ nhân tạo[6].

        1.4. Về pháp nhân thương mại phạm tội

        Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, không ít pháp nhân thương mại chạy theo lợi nhuận cục bộ đã có sự thông đồng thực hiện nhiều hành vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm như trốn thuế, kinh doanh trái phép, đầu cơ, buôn lậu hoặc vì lợi ích cục bộ đã không thực hiện các biện pháp mà pháp luật đòi hỏi để bảo vệ môi trường, gây hậu quả nghiêm trọng. Các hành vi vi phạm pháp luật mang tính chất tội phạm do pháp nhân thực hiện trong thời gian qua diễn ra ngày càng nhiều, như: buôn lậu, buôn bán hàng cấm, gian lận thương mại, kinh doanh trái phép, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán… Đa số những trường hợp trên là do cơ quan lãnh đạo, người đại diện của pháp nhân thực hiện vì lợi ích của pháp nhân hoặc trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, có tổ chức cao và có những trường hợp mang tính quốc tế, gây thiệt hại nghiêm trọng cho kinh tế - xã hội và cho đời sống của người dân, đòi hỏi cần phải có giải pháp mạnh để phòng ngừa và đấu tranh.

        Theo quy định của BLHS năm 2015, việc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người chỉ được thực hiện với các cá nhân phạm tội. Trong khi đó, trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại lần đầu tiên được quy định là chủ thể của tội phạm trong BLHS năm 2015. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015, pháp nhân thương mại chỉ là chủ thể của 33 tội danh cụ thể, tập trung vào ba nhóm tội phạm, đó là nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (22 tội danh), nhóm các tội phạm về môi trường (09 tội danh) và nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (02 tội danh). Như vậy, có thể thấy, BLHS năm 2015 không quy định pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người. Tuy nhiên, thực tiễn phát sinh một số bất cập trong việc áp dụng pháp luật, như: tội mua bán người là những tội phạm có tính chất xuyên quốc gia; trong khi đó, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, khi Việt Nam là thành viên của nhiều Công ước, trong đó có Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước TOC) và Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp tội buôn bán người nói riêng, Việt Nam tuyên bố không bị ràng buộc về quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Mặc dù vậy, theo quy định tại Điều 10 Công ước TOC, các quốc gia thành viên phải ban hành những biện pháp cần thiết phù hợp với những nguyên tắc pháp lý của nước mình, để xác định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân trong việc thực hiện những hành vi phạm tội như thực hiện tội phạm nghiêm trọng liên quan đến việc tham gia nhóm tội phạm có tổ chức. Đồng thời, tùy theo những nguyên tắc pháp lý của mình, việc xử lý pháp nhân vi phạm có thể là trách nhiệm hình sự, dân sự hay trách nhiệm hành chính. Tuy nhiên, tại Việt Nam, hành vi thực hiện một tội phạm nghiêm trọng liên quan đến việc tham gia nhóm tội phạm có tổ chức nói chung và hành vi mua bán người nói riêng luôn được coi là tội phạm hình sự mà không coi là hành vi vi phạm hành chính. Do đó, việc không quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân khi phạm tội mua bán người đã bỏ sót việc xử lý hành vi vi phạm của pháp nhân khi thực hiện các tội phạm này. Đặc biệt do tính chất xuyên biên giới của tội phạm này, việc không quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với tội mua bán người trong BLHS năm 2015 của Việt Nam có khả năng dẫn tới khó khăn trong hợp tác quốc tế do xung đột pháp luật giữa các quốc gia.

        1.5. Quy định về phân loại tội phạm về môi trường nói chung và tội phạm liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp và khung hình phạt chưa phù hợp với thực tiễn.

        Cụ thể, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định tại Điều 9 BLHS năm 2015, tội phạm được phân thành 04 loại, gồm: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, nhóm các tội “Gây ô nhiễm môi trường” (Điều 235 BLHS), tội “Vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường” (Điều 237 BLHS) liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp gây nên thì mức khung hình phạt cao nhất đến 10 năm tù. Nói cách khác, đối với nhóm tội phạm về môi trường không có loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong khi đó, từ nhiều vụ việc trong thực tiễn trong thời gian qua cho thấy, hậu quả của tội phạm gây ô nhiễm môi trường hay vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường đã gây hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cho không chỉ môi trường mà còn tác động trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người và sự phát triển bền vững của không chỉ một quốc gia. Vì vậy, với khung hình phạt đối với tội phạm này hiện nay có thể thấy chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe đối với các chủ thể cố tình vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường. Mặt khác, tội gây ô nhiễm môi trường quy định mới có cấu thành hình thức nhưng vẫn chỉ áp dụng với hành vi thải khí và bụi, mà chưa quy định đối với hành vi vi phạm pháp luật môi trường về độ rung, tiếng ồn, mùi. Bên cạnh đó, theo quy định hiện hành, hành vi xả thải phải đạt một tải lượng nhất định thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Có thể nói, quy định này gây khó khăn nhất định trong thực tiễn bởi việc xác định tải lượng này với môi trường không khí là tương đối phức tạp, có thể vượt quá khả năng của cơ quan tiến hành tố tụng.

        1.6. Phát sinh một số tội phạm mới

        Thực tiễn thời gian qua cho thấy, trong quá trình điều tra tội phạm mua bán người, các cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều trường hợp mua bán thai nhi trong bụng mẹ. Không chỉ là những vụ mua bán đơn lẻ trong phạm vi nội địa mà việc mua bán bào thai được tổ chức thành đường dây có tổ chức để đưa những người mẹ đang mang thai ra nước ngoài để kiếm tiền. Tuy nhiên, thực tiễn xử lý hình sự đối với hành vi mua bán bào thai là hết sức khó khăn. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về thể chế. Cụ thể, BLHS năm 2015 không có điều luật nào quy định việc mua bán bào thai là tội phạm hình sự. Trong khi đó, bào thai trong bụng người mẹ chưa được coi là “người” khi chưa được sinh ra, vì thế việc xử lý về tội mua bán người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 151 BLHS năm 2015 là không khả thi.

        2. Một số gợi mở trong thời gian tới

        Từ thực tiễn nêu trên, bên cạnh việc nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công chức; tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến cá nhân, tổ chức thì không thể thiếu một khuôn khổ pháp lý hoàn thiện để giải quyết những bất cập, khoảng trống pháp lý nêu trên. Nhóm tác giả có một số gợi mở đối với việc hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự trước thực tiễn nêu trên, cụ thể:

        Thứ nhất, tiếp tục nội luật hóa các quy định của Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Trong thời gian tới, cơ quan có thẩm quyền cần tập hợp, phân tích, đánh giá những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật hình sự đối với thực tiễn điều tra tội phạm xuyên quốc gia để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Mặt khác, tiếp tục nghiên cứu nội luật hóa quy định Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia vào quy định của BLHS. Theo đó, đối với một số tội phạm có thể có tính chất xuyên quốc gia được quy định trong BLHS hiện hành thì bổ sung tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với trường hợp hành vi phạm tội do nhóm tội phạm có tổ chức thực hiện. Đồng thời, nghiên cứu, chỉnh sửa các điều luật về hành vi tham nhũng (trong đó tập trung vào tội đưa hối lộ, nhận hối lộ), hành vi rửa tiền, hành vi cản trở công lý sao cho phù hợp với Công ước, pháp luật Việt Nam.

        Thứ hai, về xác định nơi thực hiện tội phạm trong quy định của BLHS, trong thời gian tới, cần nghiên cứu, tham khảo chính sách và pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới để quy định các trường hợp trên cũng coi là “nơi thực hiện tội phạm” để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng, phù hợp với chuẩn mực pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự các nước, cũng như yêu cầu phòng và chống tội phạm, cũng như vì mục đích bảo vệ sự ổn định của hòa bình và an ninh nhân loại là trách nhiệm chung của các quốc gia trên thế giới.

        Thứ ba, nhận diện được những thách thức đặt ra đối với một chủ thể mới – AI, ngày 26/01/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 127/QĐ-TTg về Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, trong đó, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tư pháp “xây dựng và hoàn thiện bổ sung các văn bản pháp luật về trách nhiệm pháp lý của các đối tượng liên quan tới trí tuệ nhân tạo”. Nhằm đáp ứng kịp thời những thách thức đặt ra trong việc xác định trách nhiệm hình sự có thể phát sinh đối với chủ thể đặc biệt này, nhóm tác giả cho rằng, Bộ Tư pháp cần chủ động chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung và BLHS nói riêng, trong đó có quy định về chủ thể thực hiện tội phạm.

        Thứ tư, hoàn thiện các quy định về pháp nhân thương mại, theo hướng cần có quy định rõ ràng để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của pháp nhân thương mại phạm tội (mức độ nguy hiểm có thể xác định qua sự ảnh hưởng của hành vi phạm tội đối với môi trường, lợi ích quốc gia và cộng đồng,…) từ đó, phân loại mức độ phạm tội đối với từng hình phạt.

        Thứ năm, hoàn thiện quy định trong việc phân loại tội phạm về môi trường. Tùy loại tội mà cần bổ sung và nâng mức khung hình phạt đối với nhóm tội phạm môi trường cho phù hợp. Theo đó, bổ sung một số tội danh trong pháp luật hình sự, như: tội vi phạm các quy định về kế hoạch bảo vệ môi trường, tội vi phạm các quy định về đánh giá môi trường chiến lược, tội vi phạm các quy định về đánh giá tác động môi trường. Trong trường hợp nếu hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi chưa được xác định bằng những chỉ số, đơn vị đo lường cụ thể, cần có những hướng dẫn, tạo căn cứ cho việc đối chiếu, áp dụng. Bên cạnh đó, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể quy định tại khoản 2 Điều 75 BLHS năm 2015. Theo đó, cần xác định rõ trách nhiệm hình sự của cá nhân đối với pháp nhân thương mại vi phạm các tội phạm về môi trường là người đứng đầu pháp nhân thương mại, người đại diện theo pháp luật hay người có trách nhiệm quản lý để xảy ra vi phạm, để dễ dàng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời cũng bảo đảm tính khả thi và áp dụng của pháp luật trong thực tiễn.

        Thứ sáu, trên cơ sở nghiên cứu, bổ sung thêm Tội mua bán bào thai vào BLHS năm 2015 để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc xử lý hình sự đối với hành vi mua bán bào thai trong bụng mẹ đang diễn ra trong thực tiễn.

        Tựu chung lại, hiện nay, khung khổ pháp lý về hình sự của Việt Nam tương đối đầy đủ, tuy nhiên trước thực tiễn thay đổi của cuộc sống và bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng có vai trò quan trọng trong việc một mặt bảo đảm quyền con người, quyền công dân; mặt khác bảo đảm an ninh trật tự an toàn xã hội./.

 


[1] Trương Hồ Hải & Đặng Viết Đạt, Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến hoạt động lập pháp, Nguồn: http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210762

[2] Mục II.2 Kế hoạch kèm theo Quyết định số 1510/QĐ-BTP ngày 03/7/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch của Bộ Tư pháp thực hiện Quyết định số 121/QĐ-TTg ngày 25/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương có đề ra nhiệm vụ: “Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2015”.

[3] Sái Ngọc Hưng, Học viện An ninh nhân dân, Hoàn thiện cơ sở pháp lý về điều tra tội phạm xuyên quốc gia, nguồn: https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=655

[4] Khoản 2 Điều 19 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015

[5] Khoản 2 Điều 26 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015

[6] Trịnh Tiến Việt, Chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức cách mạng công nghiệp 4.0 - Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử

 

Nhóm tác giả: Nguyễn Đức Toàn, Hoàng Thúy Hằng, Nguyễn Hữu Chỉnh

Viện KSND huyện Thường Tín

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 197

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 1001532