Một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất trong công tác kiểm sát việc thu giữ thư tín, điện tín

15/04/2022 09:01 | 220 | 0

       Trong những năm gần đây, các đối tượng phạm tội thông qua việc sử dụng các mạng xã hội, phần mềm nhắn tin để thực hiện hành vi phạm tội có nhiều diễn biễn phức tạp, xu hướng gia tăng; đặc biệt là các tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Đánh bạc…

       Trong quá trình kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, kiểm sát thực hành quyền công tố, điều tra các vụ án hình sự và nghiên cứu các quy định của pháp luật, tác giả bài viết nhận thấy còn một số khó khăn, vướng mắc trong việc kiểm sát việc thu giữ thư tín, điện tín và có một số kiến nghị, đề xuất như sau:

       - Việc khám xét, thu giữ thư tín, điện tín là biện pháp điều tra được áp dụng trên cơ sở quy định tại các Điều 197, Điều 199 BLTTHS năm 2015; So với BLTTHS năm 2003, căn cứ thu giữ thư tín, điện tín theo quy định tại BLTTHS năm 2015 không có sự thay đổi. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm thư tín, điện tín; cách hiểu khái niệm thư tín, điện tín không còn phù hợp, còn máy móc không theo kịp với sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin. Hiện nay con người liên lạc giao tiếp với nhau thông qua các ứng dụng nhắn tin của điện thoại thông minh (smart phone) là chủ yếu, như Mesenger, Zalo, What app, Viber,…hay mạng xã hội như Facebook, tiktok, Twitte…Do đó, chưa có sự thống nhất trong cách hiểu về khái niệm thư tín, điện tín giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát để thống nhất việc phê chuẩn Lệnh thu giữ điện tín, thư tín. Do vậy, một số Cơ quan Cảnh sát điều tra đơn phương ban hành công văn yêu cầu các công ty sở hữu phần mềm nhắn tin, mạng xã hội mà không có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát trước khi thi hành, điều này đã thể hiện hoạt động thu giữ thư tín, điện tín không được kiểm sát theo quy định.

       Tác giả đề xuất các cấp có thẩm quyền thống nhất về khái niệm thư tín, điện tín và phạm vi áp dụng đối với Lệnh thu giữ thư tín, điện tín để cơ quan tiến hành tố tụng thuận lợi hơn trong việc áp dụng pháp luật.

       - Các đối tượng tội phạm sử dụng nhiều số điện thoại khác nhau, đứng tên chủ thuê bao không chính danh nhằm mục đích để che giấu tội phạm, việc đăng ký tài khoản các phần mềm nhắn tin, mạng xã hội chưa được kiểm soát, các đối tượng tội phạm đã lợi dụng việc này để đăng ký thông tin chủ tài khoản không đúng hoặc là thông tin của một người khác gây nhiều khó khăn trong công tác giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, kiểm sát thực hành quyền công tố, điều tra các vụ án hình sự.

       Tác giả đề xuất các cấp có thẩm quyền quy định chặt chẽ việc kiểm soát đăng ký thông tin khách hàng của các tổ chức viễn thông, công ty cung cấp phần mềm nhắn tin, mạng xã hội.

       - Các quy định của BLTTHS còn chưa cụ thể, chưa quy định rõ thời hạn trả lời, cung cấp thông tin; chưa quy định trách nhiệm của tổ chức viễn thông, của các công ty cung cấp phần mềm nhắn tin, mạng xã hội trong việc trả lời, cung cấp thông tin; chế tài áp dụng đối với các tổ chức viễn thông, các công ty trong trường hợp chậm cung cấp hoặc không cung cấp thông tin khi nhận được Lệnh thu giữ thư tín, điện tín của Cơ quan điều tra và Quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát. Từ đó dẫn đến khó khăn trong việc điều tra, mở rộng án, việc giải quyết vụ án bị kéo dài và không triệt để. Thực tế, cơ quan tiến hành tố tụng đã ban hành các công văn yêu cầu đối với tổ chức viễn thông, tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng có kết quả. Vì vậy, khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra buộc phải kết luận điều tra và tách nội dung này ra chờ kết quả để làm rõ, xử lý sau.

       Tác giả đề xuất các cấp có thẩm quyền quy định cụ thể trách nhiệm của tổ chức viễn thông, của các công ty cung cấp phần mềm nhắn tin, mạng xã hội trong việc trả lời các yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng khi có Lệnh thu giữ thư tín, điện tín và yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng đăng ký sử dụng các tài khoản phần mềm nhắn tin, mạng xã hội.

       - Một số công ty cung cấp phần mềm nhắn tin, mạng xã hội lấy lý do bảo mật thông tin của khách hàng nên không cung cấp thông tin về tài khoản phần mềm nhắn tin, mạng xã hội và nội dung yêu cầu thu giữ thư tín, điện tín của cơ quan tiến hành tố tụng.

       Tác giả đề xuất các cấp có thẩm quyền quy định rõ phạm vi, nội dung cung cấp thông tin của các tổ chức viễn thông, công ty theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và trách nhiệm không để lộ, lọt thông tin khi các tổ chức viễn thông, công ty cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan tiến hành tố tụng.

Nguyễn Ngọc Dương - Viện KSND quận Tây Hồ

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 198

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 1001533