Công tác kiểm sát giám định tư pháp chất nghi là ma túy và một số vướng mắc

30/03/2022 10:19 | 251 | 0

        Giám định tư pháp là hoạt động bổ trợ tư pháp, là công cụ quan trọng phục vụ đắc lực cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo các vụ án được giải quyết khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

        Luật giám định tư pháp ra đời đã tạo hành lang pháp lý cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các tổ chức giám định, giám định viên từng bước được hoàn thiện, chất lượng kết luận giám định được nâng cao, đội ngũ người làm công tác giám định từng bước được đổi mới và nâng cao về chất lượng. Luật giám định tư pháp năm 2020 đã sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật giám định tư pháp năm 2012 về căn cứ, cách thức trưng cầu giám định; căn cứ, cách thức đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp; bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan trưng cầu giám định, cơ quan thực hiện giám định... bảo đảm điều kiện cho hoạt động giám định được tiến hành hiệu quả, góp phần thể chế hóa tinh thần Nghị quyết số 49-NQ-TƯ ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới.

        Nhìn chung, công tác giám định tư pháp thời gian qua đã có những bước chuyển biến tích cực nhất là lĩnh vực tổ chức giám định, giám định viên chuyên trách thực hiện công tác giám định như pháy y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự…ngày càng phục vụ tốt hơn cho hoạt động tố tụng góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật.

        Trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ đề cập đến vấn đề giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự đối với các vụ án hình sự về ma túy, góp phần làm rõ hơn các trường hợp trưng cầu giám định bổ sung về hàm lượng để xác định khối lượng chất ma túy.

        1. Cơ sở pháp lý để trưng cầu giám định chất nghi là ma túy:

        1.1- Bộ luật TTHS năm 2015 (Điều 206) quy định các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định:

        Một là tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án. Hai là  tuổi của bị can, bị cáo, nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó. Ba là, nguyên nhân chết người. Bốn là, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động. Năm là, chất ma túy, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ. Sáu là, mức độ ô nhiễm môi trường.

        1.2- Luật giám định tư pháp số 56/2020/QH14 ngày 10/6/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp năm 2012 có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/01/2021.

        Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong công tác giám định tư pháp, trong đó quy định giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc yêu cầu của người yêu cầu giám định.

        Luật giám định tư pháp quy định người yêu cầu giám định bao gồm: đương sự trong vụ việc dân sự, hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, (trừ trượng hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo) có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận.

        1.3- Luật giám định tư pháp sửa đổi bổ sung còn quy định chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự thủ tục bổ nhiệm giám định viên tư pháp và cấp thẻ giám định viên tư pháp; công nhận và đăng tải danh sách người giám định viên tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định viên tư pháp theo vụ việc. Luật này giao quyền cho các bộ: Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lựa chọn các nhân, tổ chức có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để ra quyết định công nhận người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý để đáp ứng yêu cầu giám định của hoạt động tố tụng. Danh sách kèm theo thông tin về chuyên ngành giám định, kinh nghiệm năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc được đăng tải, rà soát và cập nhập trên cổng thông tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời gửi Bộ Tư pháp để lập danh sách chung. Danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lựa chọn quyết định trưng cầu giám định.

        1.4- Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 quy định: Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại và trọng lượng chất ma túy, tiền chất thu giữ được. Bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy trong các trượng hợp sau:

        a) Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch;

        b) Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng;

        c) Xái thuốc phiện;

        d) Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần.

        Ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật.

        1.5- Ngày 29/8/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao ban hành Công văn số 2955/CSĐT(C44) hướng dẫn Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an các cấp về nội dung yêu cầu giám định chất thu giữ nghi là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy. Nội dung văn bản yêu cầu rõ:

        Đối với các trường hợp không bắt buộc phải trưng cầu giám định để xác định hàm lượng, nội dung yêu cầu trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi “Mẫu gửi giám định có phải là chất ma túy, tiền chất ma túy không?Loại chất ma túy, tiền chất gì?khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?”.

        Nội dung kết luận giám định phải xác định rõ về chất ma túy để phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự; không được kết luận “Là chế phẩm Heroin, có thành phần Heroin, hoặc có Heroin” mà phải thống nhất trả lời “Mẫu bột/tinh thể/viên nén gửi giám định là ma túy/tiền chất, có khối lượng (gam, kilogam), là loại Heroin, Cocain, Methamphetamine, MDMA…”.

        1.6- Ngày 16/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao ban hành Công văn số 464/VKSTC-V4 thể hiện rõ nội dung: Đối với chất ma túy thể rắn có nhiều chất Methamphetamine, MDMA, Ketamine chỉ giám định khối lượng chất ma túy; không giám định hàm lượng chất ma túy; Trường hợp không giám định được khối lượng từng chất thì vận dụng nguyên tắc có lợi.

        2. Trường hợp bắt buộc trưng cầu giám định hàm lượng chất ma túy:

        Trong thực tiễn giải quyết các vụ án về ma túy, pháp luật quy định công tác giám định là vô cùng quan trọng và bắt buộc phải được thực hiện. Bộ luật TTHS quy định các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định (Điều 206 BLTTHS), trong đó có chất ma túy. Tuy nhiên quá trình thực hiện còn có nhiều khó khăn, vướng mắc, cách hiểu của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng còn khác nhau; nhất là đối với loại ma túy đã thu giữ có nhiều chất ma túy mà pháp luật quy định tính nguy hiểm ở từng cấp độ khác nhau dẫn đến có nơi trưng cầu giá định khối lượng chất ma túy, có nơi trưng cầu giám định về hàm lượng của từng chất ma túy để quy đổi ra khối lượng của từng chất dẫn đến việc mỗi nơi có cách hiểu, cách làm khác nhau, giải quyết vụ án không thống nhất chưa đúng với pháp luật và bản chất của vụ án.

        - Từ những quy định nêu trên, việc quyết định trưng cầu giám định về hàm lượng chất ma túy được giao cho 02 cơ quan tiến hành tố tụng:

        + Cơ quan điều tra được trưng cầu giám định hàm lượng chất ma túy thuộc một trong bốn trường hợp:

        Một là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch;

        Hai là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng;

        Ba là xái thuốc phiện;

        Bốn là thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần.

        + Tòa án được trưng cầu giám định hàm lượng chất ma túy nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết để đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật.

        Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu giám định hàm lượng chất ma túy khi không thuộc một trong bốn trường hợp nêu trên thì quyết định trương cầu giám định đó là không đúng pháp luật, kết quả giám định không có giá trị pháp lý, không được xử dụng làm căn cứ để quy đổi thành khối lượng chất ma túy để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người buộc tội.

        3. Công tác kiểm sát việc giám định đối với chất nghi là ma túy:

        3.1- Kiểm sát quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan điều tra: Khoản 3, Điều 205 của Bộ luật TTHS quy định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu giám định, cơ quan trưng cầu giám định gửi quyết định trưng cầu giám định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra. Với chức năng nhiệm vụ của mình, khi nhận quyết định trưng cầu giám định, Kiểm sát viên được phân công thụ lý giải quyết phải thực hiện việc kiểm sát quyết định trưng cầu giám định về mặt hình thức và nội dung của quyết định trưng cầu giám định gồm: tên cơ quan trưng cầu giám định, họ tên người có thẩm quyền trưng cầu giám định; tên tổ chức, họ tên người được trưng cầu giám định; tên và đặc điểm của đối tượng cần giám định; tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có); nội dung yêu cầu giám định; ngày, tháng, năm và thời hạn trả lời kết luận. Quá trình kiểm sát quyết định trưng cầu giám định nếu phát hiện quyết định trưng cầu giám định có vi phạm không đảm bảo tính hợp pháp về hình thức hoặc nội dung thì Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra ban hành văn bản kiến nghị, yêu cầu cơ quan trưng cầu giám định khắc phục sửa chữa hoặc ra quyết định hủy bỏ quyết định trưng cầu giám định không đúng pháp luật.

        3.2- Kiểm sát nội dung quyết định trưng cầu giám định nghi là chất ma túy, quyết định phải nêu rõ: Mẫu gửi giám định có phải là chất ma túy, tiền chất ma túy không? Loại chất ma túy, tiền chất gì? khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?.

        Trường hợp quyết định trưng cầu giám định có nội dung trưng cầu giám định về hàm lượng chất ma túy thì Kiểm sát viên cần phải đối chiếu so sánh việc trưng cầu giám định hàm lượng chất ma túy có thuộc các trường hợp: có phải chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch không? có phải chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng không? có phải là xái thuốc phiện không? có phải là thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần không?.

        3.3- Kiểm sát kết luận giám định của cơ quan giám định tư pháp: Khoản 2, Điều 213 Bộ luật TTHS quy định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kết luận giám định, cơ quan đã trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định phải gửi bản kết luận giám định cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. Sau khi nhận được kết luận giám định, Viện kiểm sát phải thực hiện việc kiểm sát tính hợp pháp của kết luận điều tra, cụ thể:

        + Kiểm sát về hình thức văn bản kết luận giám định; cơ quan tiến hành giám định, người tiến hành giám định có đúng theo Điều 20 Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Giám định tư pháp: được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền lựa chọn bổ nhiệm nằm trong danh sách kèm theo thông tin về chuyên ngành giám định, kinh nghiệm năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc được đăng tải, rà soát và cập nhập trên cổng thông tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

        + Kiểm sát nội dung kết luận giám định, phải ghi rõ kết quả giám định đối với những nội dung đã được trưng cầu, yêu cầu và những nội dung khác theo quy định của pháp luật. Nội dung kết luận giám định phải xác định rõ về chất ma túy để phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự; không được kết luận: Là chế phẩm Heroin, có thành phần Heroin, hoặc có Heroin” mà phải thống nhất trả lời “Mẫu bột/tinh thể/viên nén gửi giám định là ma túy/tiền chất, có khối lượng (gam, kilogam), là loại Heroin, Cocain, Methamphetamine, MDMA…

        3.4- Đối với kết luận giám định về hàm lượng chất ma túy thì chỉ được sử dụng làm căn cứ buộc tội bị can, bị cáo khi thuộc một trong bốn trường hợp: chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch; chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng; xái thuốc phiện; thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần. Hoặc kết luận giám định do Tòa án trưng cầu giám định xét thấy cần thiết để đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật.

        4. Thực tiễn khó khăn, vướng mắc:

        4.1- Đối với trường hợp kết luận giám định trả lời về tổng khối lượng và xác định là ma túy có thành phần nhiều chất ma túy (Methamphetamine, MDMA và Ketamine...). Trong khi pháp luật quy định tính nguy hiểm của các chất ma túy trên là khác nhau và quy định tại các điểm khác nhau của điều luật dẫn đến khung hình phạt cũng khác nhau. Cơ quan tiến hành tố tụng đã quyết định trưng cầu bổ sung xác định khối lượng của từng chất, Methamphetamine là bao nhiêu? MDMA là bao nhiêu? Ketamine là bao nhiêu?... để xác định khung hình phạt khi truy tố, xét xử. Cơ quan giám định kết luận bổ sung trả lời về hàm lượng của các chất ma túy Methamphetamine, MDMA, Ketamine...để quy đổi ra khối lượng của từng chất. Việc giải quyết vụ án theo hướng nào?

        4.2- Đối với trường hợp kết luận giám định trả lời: chất gửi giám định có khối lượng là…..gam, có tìm thấy thành phần ma túy Methamphetamine (hoặc MDMA hay Ketamine...). Đối với trường hợp này, bị can, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng chất ma túy có tìm thấy thành phần chất Methamphetamine theo khối lượng ma túy quy định trong khung hình phạt? hay bị can, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình phạt theo khoản 1 của điều luật khởi tố vì không xác định được khối lượng của chất Methamphetamine?

        4.3- Đối với trường hợp kết luận giám định trả lời: Chất gửi giám định có khối lượng là A gam, tìm thấy thành phần ma túy MDMA, do lượng MDMA có trong mẫu rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp nên không xác định được hàm lượng MDMA.

        4.4- Đối với trường hợp các đối tượng mua ma túy về để cùng nhau sử dụng, khi bị bắt giữ thu chất mà các đối tượng đang sử dụng nghĩ là ma túy, kết luận giám định xác định không phải là chất ma túy. Các đối tượng có hành vi cung cấp chỗ ở, dụng cụ để cùng nhau sử dụng có bị xử lý hình sự không? nếu bị xử lý thì xử lý về tội gì? khung hình phạt nào?

        4.5- Trường hợp Nguyễn Văn A mang 1.000 gam ma túy đi bán cho Nguyễn Văn B, khi đang giao ma túy thì Nguyễn Văn A bị bắt quả tang cùng 1.000 gam chất nghi là ma túy, đối tượng Nguyễn Văn B chạy thoát. Kết quả giám định 1.000 gam chất bột Nguyễn Văn A mang bán cho Nguyễn Văn B không phải là chất ma túy. Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 BLHS và tiến hành tạm giam thời hạn là 03 tháng. Sau 01 tháng điều tra, Cơ quan điều tra chứng minh được Nguyễn Văn B mua ma túy mục đích để bán nên đã quyết định khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Nguyễn Văn B về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1, Điều 251 BLHS. Thời hạn tạm giam đối với bị can Nguyễn Văn B là 03 tháng hay là 02 tháng (trừ 01 tháng tính từ khi khởi tố vụ án).

        5. Đề xuất giải quyết vướng mắc:

        5.1- Đối với trường hợp 4.1, Cơ quan giám định xác định được tổng khối lượng các chất ma túy nhưng không xác định được khối lượng của từng chất mà chỉ xác định được về hàm lượng (%) của từng chất. Theo quy định của pháp luật thì bị can, bị cáo phải chịu trách hình sự về tổng khối lượng các chất ma túy; trong khi pháp luật quy định các chất ma túy Methamphetamine và MDMA có tính nguy hiểm cao hơn chất ma túy là Ketamine, do vậy phải quy đổi từ hàm lượng để xác định rõ khối lượng của từng chất làm căn cứ xác định khung hình phạt và mức án, theo hướng áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo, cụ thể:

        Ví dụ: Kết luận giám định xác định chất giám định là ma túy loại Methamphetamine và Ketamine, tổng khối lượng là B.

        Giám định bổ sung xác định hàm lượng Methamphetamine là C và hàm lượng Ketamine là D.

        + Vậy khối lượng của chất Methamphetamine (gọi là A) bằng tổng khối lượng các chất ma túy (là B) chia cho 100 nhân với hàm lượng gọi là C (Công thức: A = B : 100 x C).

        + Khối lượng của chất Kentamine = khối lượng các chất ma túy (là B) - khối lượng của chất Methamphetamine (là A).

        5.2- Đối với trường hợp 4.2, chất gửi giám định có khối lượng là…gam, có tìm thấy thành phần ma túy Methamphetamine. Theo quy định tại điểm 1.4 của Thông tư liên tịch số 17/2007 ngày 24/12/2007 thì chất gửi giám định không phải là chất ma túy nhưng người thực hiện hành vi ý thức được đó là chất ma túy thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng. Trong trường hợp nêu trên, kết luận giám định thể hiện có tìm thấy thành phần ma túy chất Methamphetamine, như vậy bị can, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng chất ma túy đã giám định theo khung hình phạt quy định trong điều luật.

        5.3- Đối với trường hợp 4.3, chất gửi giám định có khối lượng và tìm thấy thành phần ma túy MDMA, nhưng lượng MDMA quá ít không xác định được hàm lượng. Cơ quan giám định không xác định được hàm lượng chất ma túy MDMA, nhưng người thực hiện hành vi ý thức đó là chất ma túy nên phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng chất ma túy đã giám định có tìm thấy ma túy MDMA.

        5.4- Đối với trường hợp 4.4, các đối tượng mua ma túy về để cùng nhau sử dụng, kết luận giám định không phải là chất ma túy. Theo tài liệu phản ánh và xác định được các đối tượng nhận thức đó là chất ma túy, chuẩn bị địa điểm với mục đích để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy và đã thực hiện cùng nhau sử dụng. Việc chất đang sử dụng không phải là ma túy là nằm ngoài ý muốn của các đối tượng. Do vậy các đối tượng có hành vi mua chất nghĩ là ma túy, chuẩn bị địa điểm, dụng cụ để sử dụng là phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất chất ma túy, quy định tại khoản 1, Điều 255 BLHS.

        5.5- Trường hợp 4.5, Kết luận giám định 1.000 gam không phải là chất ma túy. Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn B đều nghĩ đó là ma túy, mục đích để bán, Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn B về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tạm giam Nguyễn Văn A là có căn cứ pháp luật. Khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo khoản 1, Điều 251 BLHS (tội mua bán trái phép chất ma túy) có khung hình phạt cao nhất là 07 năm tù, thuộc loại tội nghiêm trọng nên thời hạn điều tra vụ án là 03 tháng và có thể được gia hạn 2 lần, lần 1 không quá 03 tháng, lần 2 không quá 2 tháng, tổng thời hạn điều tra không quá 08 tháng (khoản 1, Điều 172 Bộ luật TTHS); thời hạn tạm giam bị can không quá 03 tháng, có thể được gia hạn 01 lần nhưng thời hạn không quá 02 tháng, tổng thời hạn tạm giam không quá 05 tháng (khoản 1,2 Điều 173 Bộ luật TTHS). Sau 01 tháng Nguyễn Văn B, mới khởi tố và bắt tạm giam, việc tạm giam Nguyễn Văn B thời hạn 03 tháng là đúng pháp luật, không quá thời hạn điều tra.

        Bài viết không tránh khỏi hạn chế, rất mong có sự bổ sung đóng góp của bạn đọc cùng đồng nghiệp để ngày càng hoàn thiện.

                                                                                                                                                                                               Đỗ Minh Tuấn - Phòng 1 - VKSND Thành phố Hà Nội

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 197

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 1001532