Một số vấn đề thực tiễn liên quan đến việc xử lý tội phạm Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn quận Thanh Xuân, TP Hà Nội

30/11/2021 10:11 | 931 | 0

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố Hà Nội đang diễn ra rất phức tạp. Việc sử dụng ma túy dưới hình thức tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng len lỏi vào nhiều khu chung cư, nhà nghỉ, khách sạn, quán karaoke và khắp các ngõ ngách trên địa bàn thành phố. Vấn đề đặt ra với các cơ quan tiến hành tố tụng là phải truy cứu trách nhiệm hình sự sao cho tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội mà hành vi đó gây ra; thống nhất trong cách áp dụng pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với từng loại hành vi phạm tội. Như vậy mới thể hiện được tính khách quan, nghiêm minh của pháp luật, mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung, qua đó góp phần dần đẩy lùi tệ nạn ma tuý ra khỏi đời sống xã hội. Song, thực tế áp dụng pháp luật để giải quyết đối với một số trường hợp được nêu cụ thể dưới đây vẫn còn nhiều quan điểm xử lý khác nhau mà chưa có văn bản hướng dẫn chính thức dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất ở các địa phương

I. Vấn đề áp dụng pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”:

1. Hành vi cung cấp ma tuý cho người khác sử dụng

Ngày 18/5/2020, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã tổ chức phiên họp trực tuyến để giải đáp một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, hành chính và dân sự, sau đó đã ban hành Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020. Trong đó, tại tiểu mục 1 phần I có hướng dẫn như sau:

“1. Đối tượng có hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng, nhưng không phát hiện có người chỉ huy, phân công, điều hành đối tượng để đưa ma túy cho người khác sử dụng. Vậy trường hợp này có xử lý đối tượng là người trực tiếp đã cung cấp ma túy cho người khác về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” hay không?

Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không đồng nhất với khái niệm “phạm tội có tổ chức”. Theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự thì “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.” Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Còn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy[1]. Trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng có đồng phạm nhưng đồng phạm ở đây được hiểu là thực hiện theo sự chỉ huy, phân công điều hành (không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, không bắt buộc phải có sự phân công, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ trong các đồng phạm).

Do đó, hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng là một trong các hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Người có hành vi này bị xử lý theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự.”

Hướng dẫn trên đã giải thích rất rõ sự khác biệt giữa “Phạm tội có tổ chức” và hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Người viết hoàn toàn nhất trí với nội dung giải thích này. Tuy nhiên việc cho rằng “hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng là một trong các hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Người có hành vi này bị xử lý theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự” lại là vấn đề cần phải bàn luận thêm.

Kể từ sau khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành cho đến nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn các tội phạm về ma túy mà chủ yếu vẫn áp dụng tinh thần của Thông tư liên tịch số 17/2007, Thông tư liên tịch 08/2015 (sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 17/2007) của Bộ Công an - Viện KSND Tối cao - TAND tối cao - Bộ tư pháp. 

Hướng dẫn tại Công văn số 89 kể trên của TAND tối cao về hành vi “cung cấp ma tuý” là một trong các dạng hành vi của tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy phù hợp với quy định tại điểm b mục 6.1 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007. Nhưng để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này cần phải xem xét thêm trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự. Điều này được quy định tại điểm a mục 6.2 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007: “6.2. Khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cần phân biệt:

a) Người nghiện ma túy có chất ma túy (không phân biệt nguồn gốc ma túy do đâu mà có) cho người nghiện ma túy khác chất ma túy để cùng sử dụng trái phép thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mà tùy từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc tội sử dụng trái phép chất ma túy”. Hướng dẫn tại Công văn số 89 không đề cập tới trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự này mà kết luận “hành vi này bị xử lý theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự”, như vậy là có sự mâu thuẫn với hướng dẫn tại điểm a mục 6.2 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007. Chính vì mâu thuẫn như vậy dẫn tới những cách áp dụng pháp luật khác nhau ở các địa phương, có nơi áp dụng tinh thần tại điểm a mục 6.2 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007 để không truy cứu trách nhiệm hình sự, có nơi lại áp dụng hướng dẫn của Công văn số 89 để xử lý hình sự đối với hành vi này. Theo quy định tại Điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Công văn hướng dẫn về nghiệp vụ của Ngành Toà án không thể thay thế Thông tư liên tịch số 17/2007 và Thông tư liên tịch 08/2015, mà thực hiện “bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền...”. Như vậy, trong bối cảnh chờ hướng dẫn mới cho vấn đề này, một văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ lại có nội dung trái với tinh thần của văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn là điều không nên được ban hành.

2. Khái niệm “người khác” trong hành vi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể “người khác” (điểm a, mục 6.1 phần phần II Thông tư liên tịch số 17/2007)

Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thường có tính chất đồng phạm, trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội phạm này thường xuất hiện các loại hành vi của người khởi xướng, cẩm đầu, thực hiện hành vi phạm tội; người giúp sức và “người thụ hưởng”. “Người khác” nêu tại điểm a, mục 6.1 phần phần II Thông tư liên tịch số 17/2007 ở đây được hiểu là “người thụ hưởng” (người không được bàn bạc, thỏa thuận trước nhưng lại được sử dụng ma túy mà không phải đóng góp bất kỳ thứ gì). “Người thụ hưởng” trong trường hợp này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tuy nhiên thực tiễn hiện nay, việc hiểu thế nào là “người khác” lại có hai quan điểm khác nhau:

- Quan điểm thứ nhất: “người khác” tức là cá nhân này với cá nhân khác.

Theo đó, chỉ cần các đối tượng cùng thực hiện hành vi bố trí, sắp xếp con người, phương tiện, dụng cụ để cùng nhau sử dụng chất ma túy là đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

- Quan điểm thứ hai: “người khác” phải là người khác so với nhóm người thực hiện hành vi phạm tội (khác với người khởi xướng, cẩm đầu, thực hiện hành vi phạm tội; người giúp sức) tức là “người thụ hưởng”.

Như vậy dẫn đến cách xử lý như sau: các đối tượng thực hiện hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy (không có “người thụ hưởng”) thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Chỉ khi nào các cơ quan tiến hành tố tụng xác định được “người thụ hưởng” thì mới có thể xử lý hình sự đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đây cũng là vấn đề dẫn tới cách áp dụng pháp luật khác nhau ở các địa phương đối với cùng một dạng hành vi.

3. Hành vi “cung cấp địa điểm dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” (điểm b, mục 6.1 phần phần II Thông tư liên tịch số 17/2007)

Thực tiễn tại các địa phương thường xuất hiện các hình thức cung cấp địa điểm như sau:

3.1. Chủ nhà nghỉ, khách sạn, người quản lý nhà hàng, quán karaoke cho các đối tượng khác sử dụng ma túy:

Việc chứng minh ý thức chủ quan của những đối tượng này (biết việc các đối tượng được cung cấp địa điểm tổ chức sử dụng ma túy tại nơi mình quản lý) để xác định có đồng phạm với nhóm khách tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là rất khó khăn. Hầu hết các đối tượng cung cấp địa điểm đều khai không biết việc các đối tượng khách có sử dụng ma túy tại nơi mình quản lý. Mặc dù nhiều trường hợp phát hiện những người giúp sức cho các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (người bưng bê ma túy, hơ nóng đĩa, xào ke...) là nhân viên của cơ sở kinh doanh đó, nhưng để cho rằng người quản lý cơ sở này buộc phải biết việc có các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi do mình quản lý lại là vấn đề gây nên tranh cãi. Do đó việc xử lý hình sự đối với chủ các cơ sở này về hành vi “cung cấp địa điểm dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” hiện đang gặp nhiều khó khăn.

3.2. A mời bạn bè gồm B, C, D, E đến nhà chơi, sau đó sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà mình:

Vấn đề vướng mắc trong trường hợp này là mục đích ban đầu của A là mời bạn về nhà để chơi, không phải là để sử dụng ma túy. Nhưng sau khi đến nhà ăn uống xong xuôi thì B, C lại nảy sinh ý định mua ma túy về cùng nhau sử dụng tại nhà của A. Khi thấy ma túy mang về và bày sẵn ra, A cũng sử dụng ma túy cùng B, C, D, E. Vậy có xử lý hình sự đối với A về hành vi “cung cấp địa điểm dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” hay không. Có quan điểm phải xử lý hình sự đối với A về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; có quan điểm cho rằng hành vi của A chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với trường hợp này, cần phải làm rõ A có tham gia bàn bạc cùng những người khác về việc mua ma túy về để sử dụng cùng nhau hay không, có phải đóng góp chi phí gì để mua ma túy không. Nếu xác định được A có bàn bạc hoặc tham gia góp tiền cùng B và C để mua ma túy (D, E là người thụ hưởng) thì A đồng phạm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngược lại, nếu A không bàn bạc hoặc tham gia góp tiền để mua ma túy (A là người thụ hưởng) thì A không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, cần xem xét trách nhiệm hình sự của A đối với hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Hành vi của A thuộc trường hợp quy định tại mục 7.2 phần phần II Thông tư liên tịch số 17/2007 “Có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là trường hợp người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý, biết người khác (không phải là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của mình) là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, tuy không cho họ thuê, mượn địa điểm, nhưng lại để mặc cho họ hai lần sử dụng trái phép chất ma túy trở lên hoặc để mặc cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy”.

II. Đề xuất kiến nghị để khắc phục khó khăn vướng mắc:

1. Vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi “cung cấp chất ma tuý cho người khác sử dụng”:

Vấn đề này đã được thống nhất cách áp dụng pháp luật sau 15 ngày kể từ khi ban hành Thông tư liên tịch số 17/2007 ngày 24/12/2007, không bị sửa đổi bổ sung bởi Thông tư liên tịch 08/2015 và được áp dụng chính thức cho tới khi Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực. Về mặt nội dung, các quy định về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý trong Bộ luật hình sự năm 2015 không có thay đổi so với các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999. Do đó việc áp dụng tinh thần của Thông tư liên tịch số 17/2007 để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi “cung cấp chất ma tuý cho người khác sử dụng” là hoàn toàn phù hợp và thống nhất với phương pháp áp dụng pháp luật từ trước đến nay. Do đó người viết đề nghị liên ngành tư pháp sớm ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật về nội dung này theo đúng tinh thần của Thông tư liên tịch số 17/2007 như đã nêu trên.

Theo đó, để phân loại trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự (điểm a mục 6.2 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007) cần xác định rõ tình trạng nghiện của các đối tượng liên quan. Vấn đề xác định tình trạng nghiện hiện nay cũng là một nội dung mà các địa phương cần quan tâm chỉ đạo, phối hợp thực hiện nhằm đảm bảo thời hạn và tính chính xác. Bởi vì việc xác định tình trạng nghiện thường mất thời gian do các thủ tục pháp lý và các dấu hiệu đặc trưng của tình trạng nghiện đối với mỗi loại ma túy là khác nhau.

2. Vấn đề làm rõ khái niệm “người khác” trong hành vi “đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể “người khác”:

Cần hướng dẫn cụ thể để làm rõ khái niệm “người khác” là “người thụ hưởng” (không được bàn bạc trước, được cho sử dụng trái phép chất ma túy mà không phải đóng góp công sức hoặc giá trị vật chất khác) hay là cá nhân này với cá nhân khác. Đây là vấn đề quan trọng bởi nó liên quan tới việc định tội, phân loại xử lý hình sự hay không xử lý hình sự ngay từ giai đoạn bắt giữ ban đầu. Nếu không thực hiện tốt nội dung này, rất có thể sẽ dẫn đến oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

3. Vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi “cung cấp địa điểm dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho thấy, để thực hiện được tội phạm này thì bắt buộc phải có “địa điểm” và rất nhiều trường hợp các đối tượng cung cấp địa điểm biết có việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn bỏ mặc cho hành vi đó diễn ra tại cơ sở do mình quản lý và coi như không biết; hay thậm chí “bật đèn xanh” cho các đối tượng khác thực hiện hành vi này.

Để có thể đấu tranh phòng chống hiệu quả với tội phạm Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, liên ngành tư pháp cũng cần sớm ban hành hướng dẫn để tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tiến hành tố tụng ở các địa phương xử lý đối với hành vi “cung cấp địa điểm dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Ngoài ra, ngay từ giai đoạn tiền khởi tố, Kiểm sát viên cũng cần phối hợp chặt chẽ với Điều tra viên để thu thập đầy đủ các chứng cứ (trao đổi trên điện thoại, tin nhắn, camera tại hiện trường, mối quan hệ giữa các đối tượng chính với đối tượng cung cấp địa điểm, lời khai của các đối tượng liên quan…) để chứng minh đối tượng cung cấp địa điểm biết hoặc có liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không.

Một vấn đề liên quan tới việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này cũng cần được chú ý đó là đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với từng loại hành vi để áp dụng pháp luật cho phù hợp. Nếu so sánh trường hợp được nêu tại mục 3.1. Chủ nhà nghỉ, khách sạn, người quản lý nhà hàng, quán karaoke cho các đối tượng khác sử dụng ma túy với trường hợp nêu tại mục 3.2. A mời bạn bè gồm B, C, D, E đến nhà chơi, sau đó sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà mình. Đối với trường hợp nêu tại mục 3.1 là trường hợp các cơ sở kinh doanh, lợi dụng hoạt động của các đối tượng sử dụng ma túy để thu lời bất chính, hoạt động như vậy có thể xảy ra thường xuyên nếu thiếu sự kiểm soát của các cơ quan chức năng. Hành vi của đối tượng trong trường hợp này cần phải ngăn chặn và xử lý nghiêm nhưng trong thực tiễn lại không dễ để truy cứu trách nhiệm hình sự như đã nêu ở trên. Còn đối với trường hợp nêu tại mục 3.2. A mời bạn bè gồm B, C, D, E đến nhà chơi, sau đó sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà mình, thường chỉ là hành vi mang tính nhất thời, đơn lẻ, không diễn ra thường xuyên. Nếu như cả hai trường hợp nêu trên đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm b, khoản 2 Điều 255 BLHS (vì thường phạm tội đối với 02 người trở lên) với mức hình phạt từ 07 đến 15 năm tù thì có thể thấy sự bất tương xứng về hình phạt đối với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội khi so sánh 02 trường hợp nêu trên. Do đó khi lượng hình, các kiểm sát viên và thẩm phán cũng cần cân nhắc để đưa ra mức đề nghị xử phạt và mức án sao cho tương xứng với đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng hành vi phạm tội./.

          Trương Văn Tiến - Viện KSND quận Thanh Xuân

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 178

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 973940