Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

22/11/2021 09:19 | 212 | 0

        Ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Ngày 12/11/2018, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 72/2018/QH14 ngày 12/11/2018 (Nghị quyết số 72) phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định CPTPP) cùng các văn kiện liên quan. Để triển khai thực hiện Nghị quyết số 72, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 121/QĐ-TTg ngày 24/01/2019 phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP (Quyết định số 121). Theo Nghị quyết số 72 và Quyết định số 121, Viện kiểm sát nhân dân (Viện KSND tối cao giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, Ngành có liên quan rà soát BLTTHS để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới kịp thời, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và đúng lộ trình thực hiện các cam kết trong Hiệp định CPTPP. Bên cạnh các nội dung cần rà soát, sửa đổi bảo đảm tương thích với các cam kết trong Hiệp định CPTPP thì trong thực tiễn hoạt động kiểm sát, chúng tôi cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện một số quy định khác của BLTTHS để bảo đảm thống nhất cách hiểu và phù hợp với thực tiễn. Do đó, trong phạm vi bài viết này, tác giả đưa ra một số quy định còn vướng mắc trong thực tiễn thi hành hoặc chưa phù hợp với thực tiễnvà đề xuất kiến nghị hoàn thiện.

        Thứ nhất, tại khoản 4 Điều 78 BLTTHS quy định: “Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ và thấy không thuộc trường hợp từ chối việc đăng ký bào chữa quy định tại khoản 5 Điều này thì vào sổ đăng ký bào chữa, gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng ký bào chữa, cơ sở giam giữ và lưu giấy tờ liên quan đến việc đăng ký bào chữa vào hồ sơ vụ án; nếu xét thấy không đủ điều kiện thì từ chối việc đăng ký bào chữa và phải nêu rõ lý do bằng văn bản”.

        Tuy nhiên, trên cơ sở thực tiễn cho thấy, trong thời hạn 24 giờ, để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét việc chấp nhận hay không chấp nhận đăng ký bào chữa là không phù hợp. Cụ thể, trong trường hợp người bị buộc tội là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt đã có quyền bào chữa. Tuy nhiên, phải đến 24 giờ sau mới hoàn thành thủ tục bào chữa thì đã hết thời hạn giữ người, đương nhiên họ mất quyền bào chữa. Do đó, tác giả cho rằng, cần nghiên cứu, sửa đổi quy định tại khoản 4 Điều 78 BLTTHS theo hướng rút ngắn thời hạn xem xét thủ tục đăng ký bào chữa xuống còn 12 giờ hoặc thấp hơn để bảo đảm quyền bào chữa của người bị bắt.

        Thứ hai, về thu thập chứng cứ, khoản 5 Điều 88 BLTTHS quy định: “Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án. Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày. Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng dấu bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Việc giao, nhận tài liệu, biên bản được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này”. Đây là quy định mới được bổ sung so với BLTTHS năm 2003 để Viện kiểm sát (VKS) thực hiện việc kiểm sát toàn bộ các tài liệu thu thập được, tránh được những sai sót trong việc thu thập chứng cứ trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, từ thực tiễn thi hành, cho thấy việc áp dụng còn chưa được thống nhất. Cụ thể, về chuyển tài liệu cho VKS, có trường hợp Cơ quan điều tra (CQĐT) chuyển cho VKS tất cả các loại tài liệu liên quan đến hoạt động tố tụng, có trường hợp, CQĐT chỉ chuyển cho VKS các tài liệu mà Kiểm sát viên (KSV) không trực tiếp kiểm sát vì căn cứ vào các quy định tại các Điều 189, 190, 191, 192, 193, 201, 202 và 204 BLTTHS thì không phải trường hợp nào KSV cũng bắt buộc phải có mặt. Do đó, CQĐT chỉ chuyển tài liệu đối với các trường hợp mà KSV không trực tiếp tham gia. Việc có hai cách áp dụng của cùng một quy định nêu trên không đảm bảo tính thống nhất. Ngoài ra, việc CQĐT không chuyển đầy đủ các tài liệu, chứng cứ thu thập được mà chỉ chuyển những tài liệu mà KSV không trực tiếp kiểm sát sẽ ảnh hưởng đến việc nắm tiến độ điều tra vụ án, tác động đến tính kịp thời trong việc kiểm sát căn cứ và tính hợp pháp của các tài liệu. Do đó, BLTTHS cần quy định bổ sung theo hướng thống nhất cách áp dụng: CQĐT phải chuyển cho VKS tất cả các tài liệu liên quan đến hoạt động tố tụng. Qua đó, việc bảo đảm mọi tội phạm đều được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, không làm oan nhưng không bỏ lot tội phạm của ngành Kiểm sát nhân dân sẽ được thực hiện có hiệu quả.

        Thứ ba, về xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án. Điều 252 BLTTHS quy định: “Tòa án tiến hành việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ bằng các hoạt động: 6. Trường hợp Tòa án đã yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng cứ nhưng Viện kiểm sát không bổ sung được thì Tòa án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án”.

        Theo quy định tại khoản 6 Điều 252 BLTTHS nêu trên thì để xác định sự thật khách quan của vụ án, Tòa án thực hiện một trong các hoạt động xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ; trong đó có trường hợp Tòa án đã yêu cầu VKS bổ sung chứng cứ nhưng VKS không bổ sung được. Nếu Tòa án xét thấy cần thiết thì có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.

        Đây là quy định bảo đảm quyền độc lập của Tòa án nói chung và Hội đồng xét xử nói riêng, Tòa án hoàn toàn có thẩm quyền xác minh, thu thập hoặc bổ sung chứng cứ nếu thấy cần thiết không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của CQĐT hay VKS. Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án còn tồn tại các quan điểm khác nhau. Cụ thể, có quan điểm cho rằng, Tòa án tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ là độc lập và không phụ thuộc vào việc Tòa án đã trả hồ sơ cho VKS. Do đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều bình đẳng trong việc thu thập chứng cứ. Việc thu thập chứng cứ là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng để làm sáng tỏ nội dung vụ án. Tuy nhiên, cũng có quan điểm khác cho rằng, Tòa án chỉ được tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ khi đã trả hồ sơ yêu cầu VKS bổ sung chứng cứ nhưng VKS không bổ sung được hoặc không thực hiện. Theo đó, trước khi tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ thì Tòa án phải trả hồ sơ điều tra bổ sung và VKS không bổ sung được chứng cứ mà Tòa án yêu cầu, Tòa án mới được quyền tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ.

        Qua rà soát các quy định của BLTTHS cho thấy, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án được quy định từ khoản 1 đến khoản 5 Điều 252 BLTTHS và được cụ thể hóa tại từ Điều 253, Điều 284, khoản 1 Điều 312, Điều 314 và khoản 4 Điều 316 BLTTHS. Khoản 3 Điều 280 BLTTHS quy định: “Trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Toà án yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Toà án tiến hành xét xử vụ án”. 

        Quy định tại khoản 6 Điều 252 BLTTHS được hiểu theo hướng: Tòa án chỉ tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ khi đã trả hồ sơ yêu cầu VKS bổ sung nhưng VKS không bổ sung được hoặc không thực hiện. Cách hiểu này xuất phát từ quy định tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, Toà án nhân dân là cơ quan xét xử. Vì vậy, nếu hiểu như quan điểm thứ nhất cho rằng Toà án có chức năng điều tra (thu thập chứng cứ) là không phù hợp với chức năng xét xử của Tòa án theo quy định của khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013. Bên cạnh đó, trong quá trình thu thập, bổ sung chứng cứ đã được CQĐT, VKS tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ theo quy định của pháp luật. Do đó, trong giai đoạn điều tra, truy tố mà CQĐT và VKS không bổ sung được thì Tòa án khó có thể thực hiện đầy đủ trừ một số trường hợp như: Tòa án cấp trên yêu cầu Tòa án cấp dưới xác minh làm rõ thêm các chứng cứ có trong hồ sơ khi xem xét lại bản án của Tòa án cấp dưới. Đồng thời, việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ của Tòa án trong một số trường hợp còn phát sinh chi phí tố tụng, làm ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ chung của Tòa án.

        Từ thực tiễn cách hiểu chưa thống nhất và áp dụng nêu trên về quy định tại Điều 252 BLTTHS, tác giả cho rằng, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về phân cấp trách nhiệm, vai trò của Tòa án và VKS trong hoạt động này, tránh trường hợp đùn đẩy trách nhiệm khi cho rằng Tòa án có quyền bổ sung, thu thập chứng cứ nên VKS không thực hiện việc điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án.

        Thứ tư, tại khoản 3 Điều 298 BLTTHS về giới hạn của việc xét xử quy định: “Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó”. Đây là quy định mới được bổ sung vào BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003. Theo quy định tại khoản 3 nêu trên thì Tòa án có thể xét xử theo tội danh khác nặng hơn tội danh mà VKS đã truy tố. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án phải trả hồ sơ để VKS truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết. Trường hợp VKS vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó. Khi quy định Tòa án có quyền xét xử theo tội danh nặng hơn tội danh mà VKS đã truy tố thì có các quan điểm khác nhau, cụ thể:

        Có quan điểm cho rằng, quy định trên chưa phù hợp với nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” và quy định về suy đoán vô tội quy định tại Điều 13 BLTTHS. Từ đó, có nguy cơ dẫn đến trường hợp vụ án không được xem xét một cách khách quan, toàn diện do Hội đồng xét xử (HĐXX) chỉ tập trung kiểm tra tài liệu, chứng cứ xem bị cáo có phạm tội mà VKS truy tố.

        Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng, quy định tại khoản 3 Điều 298 BLTTHS thể hiện mối quan hệ pháp lý giữa chức năng buộc tội của VKS và chức năng xét xử của Tòa án. Theo đó, Tòa án không buộc tội mà chỉ xem xét, xét xử trong phạm vi nội dung buộc tội của VKS. Trường hợp VKS bỏ lọt tội phạm và người phạm tội thì trách nhiệm thuộc về VKS. Vì vậy, để giải quyết thực tiễn phát sinh nêu trên, tác giả cho rằng, Tòa án chỉ tập trung xét xử hành vi mà bị cáo đã thực hiện và VKS đã truy tố, không phụ thuộc vào tội danh mà VKS đề nghị. Việc xác định bị cáo phạm tội gì, hình phạt như thế nào là do Tòa án quyết định và phải nêu rõ trong quyết định đưa vụ án ra xét xử.

        Thực tế cho thấy, có trường hợp Tòa án nhân dân cấp huyện là Tòa án xét xử sơ thẩm đối với bị cáo bị VKS truy tố về tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo thuộc khoản nặng hơn hoặc tội nặng hơn mà VKS đã truy tố và tội nặng đó lại thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng thì sẽ không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện theo quy định tại Điều 268 BLTTHS quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án. Do đó, căn cứ Điều 274 BLTTHS, Tòa án cấp sơ thẩm phải chuyển vụ án. Tuy nhiên, đối với khoản 3 Điều 298 BLTTHS thì chưa đưa ra cách giải quyết đối với trường hợp nêu trên. Vì vậy, cần nghiên cứu, hoàn thiện quy định tại khoản 3 Điều 298 BLTTHS theo hướng hoặc bỏ quy định tại khoản 3 Điều 298 hoặc bổ sung trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm xét thấy tội danh cần xét xử vượt quá thẩm quyền xét xử thì chuyển vụ án theo quy định tại Điều 274 BLTTHS để bảo đảm rõ ràng và thống nhất.

        Thứ năm, tại Điều 325 BLTTHS về xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa quy định: “Khi Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án. Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó”.

        Theo nguyên tắc chỉ khi có buộc tội mới có gỡ tội (bào chữa) và xét xử. Trường hợp không còn sự buộc tội, việc bào chữa và xét xử cũng sẽ không còn. Vì vậy, nếu VKS rút quyết định truy tố trước và trong phiên tòa thì Tòa án phải đình chỉ xét xử đối với bị cáo hoặc đối với hành vi đó. Vì khi VKS rút quyết định truy tố đối với một bị cáo đồng nghĩa với việc chấm dứt việc buộc tội đối với bị cáo đó. Khi việc buộc tội không còn thì sẽ không còn cơ sở cho sự tồn tại của chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Do đó, cần nghiên cứu, sửa đổi Điều 325 BLTTHS theo hướng: trường hợp VKS rút một phần quyết định truy tố thì Tòa án chỉ xét xử phần quyết định truy tố không bị rút; trường hợp VKS rút toàn bộ quyết định truy tố thì Tòa án phải đình chỉ việc xét xử.

        Trên đây là một số ý kiến đánh giá về thực tiễn thi hành các quy định của BLTTHS và kiến nghị hoàn thiện của tác giả, hy vọng sẽ góp phần cung cấp thêm thông tin cho quá trình nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS.

Nhóm tác giả: Nguyễn Đức Toàn, Hoàng Thúy Hằng, Nguyễn Hữu Chỉnh

Viện KSND huyện Thường Tín

Thông báo số 102/TB-VKSTC của Viện KSND tối cao về việc tuyển dụng công chức ngành KSND năm 2021
Kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua đặc biệt "Toàn dân đoàn kết, chung sức thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch Covid-19" trên địa bàn thành phố Hà Nội
Công văn số 2159/VKS-VP của Viện KSND TP Hà Nội về việc triển khai đợt cao điểm (từ ngày 21/9 đến ngày 15/11/2021) tham gia Cuộc thi ảnh “Nét đẹp cán bộ, công chức ngành Kiểm sát”
Công văn số 1216/VKS-VP ngày 06.9.2021 v/v tiếp tục triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19
Công văn v/v triển khai, hưởng ứng tham gia cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu pháp luật trong phòng, chống dịch Covid-19”
Thông báo của Ban sơ tuyển thí sinh đăng ký xét tuyển vào trường Đại học Kiểm sát Hà Nội năm 2021
Thông báo v/v tạm dừng tiếp công dân của Viện KSND thành phố Hà Nội
CV v/v tăng cường công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn thành phố Hà Nội của Đảng ủy Viện KSND thành phố
Công văn v/v tuyên truyền, giới thiệu gương ĐHTT và hưởng ứng tham gia Giải Búa liềm vàng lần thứ VI trong ngành KSND
Viện KSND thành phố Hà Nội triển khai tham gia Cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân”

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 60

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 956575