Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh của hoạt động tài chính, ngân hàng, thương mại điện tử và các giao dịch trên không gian mạng, tội phạm Rửa tiền có xu hướng diễn biến ngày càng phức tạp, phương thức, thủ đoạn tinh vi, quy mô tiền, tài sản ngày càng lớn.
Hà Nội là trung tâm kinh tế, tài chính lớn của cả nước, tập trung nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, hoạt động đầu tư, kinh doanh bất động sản và các giao dịch tài sản có giá trị lớn; đồng thời cũng là địa bàn phát sinh nhiều loại tội phạm có khả năng tạo ra nguồn lợi bất chính lớn. Đây là điều kiện để các đối tượng lợi dụng thực hiện việc luân chuyển, chuyển đổi, che giấu hoặc hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có.
Qua thực tiễn thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án về tội Rửa tiền, VKSND thành phố Hà Nội nhận thấy một số vấn đề đáng chú ý như sau:
1. Tình hình, đặc điểm của tội phạm rửa tiền
Theo số liệu thống kê từ năm 2021 đến nay, VKSND thành phố Hà Nội đã thụ lý, kiểm sát điều tra 10 vụ/45 bị can được khởi tố mới; truy tố 06 vụ/45 bị can và xét xử 04 vụ/24 bị cáo về tội Rửa tiền. So với các nhóm tội phạm khác, số vụ án được phát hiện, xử lý về tội Rửa tiền chưa nhiều; tuy nhiên, tính chất, quy mô và phương thức thực hiện ngày càng phức tạp, số tiền, tài sản liên quan trong một số vụ án đặc biệt lớn.
Qua thực tiễn cho thấy, tội Rửa tiền thường không phát sinh độc lập mà có tính chất phái sinh từ tội phạm nguồn, sau khi phát sinh tiền, tài sản do phạm tội mà có, các đối tượng tiếp tục thực hiện các giao dịch nhằm che giấu, chuyển đổi hoặc hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản. Nguồn tiền bất hợp pháp trong các vụ án đã xử lý trên địa bàn chủ yếu phát sinh từ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc và Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Trong đó, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là lừa đảo trên không gian mạng, là nhóm tội phạm nguồn có nguy cơ phát sinh hành vi rửa tiền cao. Sau khi chiếm đoạt được tiền, các đối tượng thường nhanh chóng phân tán qua nhiều tài khoản trung gian, tài khoản thuê, mua hoặc mượn của người khác; tiếp tục rút thành tiền mặt, chuyển đổi sang USDT, mua bất động sản hoặc các tài sản khác nhằm che giấu nguồn gốc và quá trình dịch chuyển của tiền.
Đối với Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc, nhất là đánh bạc trực tuyến, số lượng giao dịch thường rất lớn, diễn ra liên tục, qua nhiều tài khoản trung gian. Tiền thu được có thể tiếp tục được luân chuyển qua nhiều lớp tài khoản, chuyển thành tiền mặt hoặc tài sản mã hóa, làm phát sinh nhiều tầng giao dịch gây khó khăn cho việc xác định nguồn tiền và người thực tế hưởng lợi.
Đối với các vụ án Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự có quy mô lớn, hoạt động kéo dài và thu lợi bất chính số tiền lớn, cũng cần chú trọng xác minh quá trình quản lý, sử dụng khoản tiền thu lợi bất chính. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ việc sử dụng tiền thu lợi bất chính không đương nhiên cấu thành tội Rửa tiền; chỉ đặt vấn đề xử lý khi có căn cứ chứng minh hành vi thuộc Điều 324 Bộ luật Hình sự nhằm che giấu hoặc hợp pháp hóa nguồn gốc của tiền, tài sản.
Về phương thức, thủ đoạn, nổi lên việc sử dụng hệ thống tài khoản ngân hàng không chính chủ, tài sản mã hóa và các ứng dụng liên lạc có tính bảo mật cao. Các đối tượng có thể tổ chức bộ phận chuyên thu mua, quản lý tài khoản, SIM điện thoại, mã OTP; tiền sau khi nhận được nhanh chóng chia nhỏ và chuyển tiếp qua nhiều tài khoản. Thực tiễn cho thấy, dòng tiền được luân chuyển với tốc độ rất nhanh, gây khó khăn trong việc xác định nguồn tiền ban đầu và đặc biệt là tìm được “điểm đọng” cuối cùng của dòng tiền, xác định người thực tế quản lý, chi phối và hưởng lợi.
Trong vụ án Trần Đức Sơn bị khởi tố về tội Rửa tiền, đối tượng thực hiện mua, bán USDT, sử dụng nhiều tài khoản tại nhiều ngân hàng, phần lớn là tài khoản không chính chủ và thường xuyên thay đổi tài khoản nhằm hạn chế nguy cơ bị tra soát, phong tỏa. Trong vụ án Lê Văn Xuân bị khởi tố về tội Rửa tiền, đối tượng sử dụng Binance để mua, bán USDT và Telegram để trao đổi giao dịch; mỗi ngày giao dịch từ vài trăm triệu đồng đến khoảng 02 tỷ đồng. Việc các tài khoản thường xuyên thay đổi và dữ liệu trao đổi bị xóa gây khó khăn trong việc xác định nguồn tiền và các đối tượng đứng phía sau.
Bên cạnh đó, yếu tố xuyên biên giới ngày càng rõ nét. Điển hình, trong vụ án Đinh Văn Hùng và 06 đồng phạm bị khởi tố về tội Rửa tiền, các bị can làm việc cho bộ phận “777pay” thuộc một tổ chức có trụ sở tại Campuchia, thực hiện hoạt động rửa tiền cho các ứng dụng đánh bạc trên mạng và các đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Quá trình điều tra phải thực hiện tương trợ tư pháp và tách vụ án đối với nhiều đối tượng ở nước ngoài để tiếp tục làm rõ.
Đáng chú ý, vụ án Phó Đức Nam và đồng phạm, phát sinh từ hoạt động Lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua các sàn giao dịch trực tuyến, cho thấy quy mô của tội phạm Rửa tiền hiện nay đã gia tăng đáng kể. Trong vụ án, VKSND thành phố Hà Nội đã truy tố 07 bị can về tội Rửa tiền, với tổng số tiền xác định đã thực hiện hành vi rửa tiền là 1.003.976.806.357 đồng.
Qua đó có thể đánh giá, tội phạm Rửa tiền trên địa bàn thành phố tuy số vụ được phát hiện, xử lý chưa nhiều nhưng quy mô ngày càng lớn, phương thức ngày càng tinh vi, có tính tổ chức, gắn chặt với công nghệ cao, tài sản mã hóa và giao dịch xuyên biên giới, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động phát hiện, chứng minh và thu hồi tài sản.
2. Những kết quả đã đạt được
Trước diễn biến nêu trên, nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong phát hiện, xử lý tội phạm Rửa tiền đã từng bước được nâng lên. Trong quá trình giải quyết các vụ án có nguồn lợi bất chính lớn, việc xác minh dòng tiền, tài khoản và tài sản của bị can, người liên quan ngày càng được quan tâm ngay từ giai đoạn điều tra.
VKSND thành phố Hà Nội đã tăng cường thực hành quyền công tố, chủ động đề ra yêu cầu điều tra để làm rõ nguồn gốc, quá trình dịch chuyển và chuyển hóa của tiền, tài sản; xác minh tài khoản ngân hàng, bất động sản, phương tiện, cổ phần, vốn góp và các tài sản có giá trị; phối hợp với Cơ quan điều tra kịp thời áp dụng các biện pháp thu giữ, phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản khi có căn cứ.
Đối với các vụ án lớn, phức tạp, Kiểm sát viên đã phối hợp với Điều tra viên rà soát sao kê ngân hàng, hệ thống hóa các giao dịch, xác định tài khoản nhận tiền ban đầu, các tài khoản trung gian, tài khoản thụ hưởng và người thực tế quản lý, sử dụng tài khoản. Việc xác minh dòng tiền không chỉ phục vụ chứng minh hành vi Rửa tiền mà còn góp phần xác định vai trò của từng đối tượng và truy tìm tài sản để bảo đảm thu hồi.
Một kết quả quan trọng là nhận thức về công tác thu hồi tài sản từng bước chuyển từ “xử lý hậu quả” sang “chủ động truy tìm và bảo toàn tài sản ngay từ đầu”. Thực tiễn cho thấy, khi việc truy tìm tài sản và áp dụng biện pháp ngăn chặn việc tẩu tán được thực hiện sớm, đồng thời với việc chứng minh hành vi phạm tội thì khả năng thu hồi tài sản được nâng lên rõ rệt.
Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với ngân hàng và các tổ chức tài chính ngày càng được chú trọng. Đây là một trong những yếu tố có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng phát hiện giao dịch bất thường, xác minh dòng tiền và kịp thời phong tỏa tài sản.
3. Một số khó khăn, vướng mắc
Thứ nhất, khó khăn trong nhận diện và chứng minh hành vi Rửa tiền. Việc xác định tài sản có nguồn gốc từ tội phạm chưa đồng nghĩa với việc đã đủ căn cứ xử lý về tội Rửa tiền. Cơ quan tiến hành tố tụng phải tiếp tục làm rõ hành vi cụ thể, mục đích của việc chuyển, nhận, sử dụng hoặc chuyển hóa tài sản và đặc biệt là chứng minh người thực hiện biết hoặc có cơ sở để biết tài sản do phạm tội mà có.
Đối với người không trực tiếp tham gia tội phạm nguồn, yếu tố nhận thức thường không có chứng cứ trực tiếp mà phải được đánh giá tổng hợp từ mối quan hệ giữa các đối tượng, số lượng, tần suất và giá trị giao dịch, việc sử dụng tài khoản không chính chủ, tiền công được hưởng, cách thức rút, chuyển tiền và nội dung trao đổi.
Thứ hai, khó khăn trong truy nguyên dòng tiền và xác định người hưởng lợi cuối cùng. Một khoản tiền có thể được chia nhỏ, chuyển qua hàng chục tài khoản trong thời gian rất ngắn; sau đó rút thành tiền mặt hoặc chuyển hóa thành loại tài sản khác. Khối lượng sao kê, dữ liệu điện tử trong các vụ án lớn rất nhiều, trong khi việc tổng hợp, đối chiếu và sơ đồ hóa dòng tiền còn mất nhiều thời gian.
Thứ ba, việc sử dụng công nghệ cao, tài sản mã hóa và yếu tố nước ngoài làm tăng đáng kể khó khăn trong điều tra. Các đối tượng sử dụng Telegram, tài khoản ẩn danh, sàn giao dịch tài sản mã hóa, máy chủ ở nước ngoài; dữ liệu có thể bị xóa hoặc nằm ngoài phạm vi quản lý của cơ quan chức năng trong nước. Trong nhiều trường hợp phải thực hiện tương trợ tư pháp nhưng thời gian chờ kết quả kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ và khả năng xử lý triệt để các đối tượng trong đường dây.
Thứ tư, công tác thu hồi tài sản còn gặp nhiều trở ngại. Tài sản trong các vụ án Rửa tiền có tốc độ dịch chuyển nhanh, thường xuyên thay đổi hình thức; có thể được chuyển qua nhiều tài khoản, rút thành tiền mặt, chuyển thành vàng, ngoại tệ, bất động sản hoặc tài sản mã hóa. Tài sản cũng có thể được đứng tên người thân, nhân viên, pháp nhân hoặc pha trộn với tài sản hợp pháp. Nếu việc xác minh, phong tỏa và kê biên không kịp thời thì khả năng thu hồi sẽ giảm đáng kể.
4. Một số giải pháp, kiến nghị
Từ thực tiễn trên, theo chúng tôi cần tập trung một số giải pháp sau:
Một là, xác định điều tra tài chính phải được tiến hành song song với điều tra tội phạm nguồn. Đối với các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tổ chức đánh bạc, Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, tham nhũng, ma túy và các vụ án tạo ra nguồn lợi bất chính lớn, ngay từ đầu cần làm rõ: tiền do phạm tội mà có là bao nhiêu, đã đi đâu và hiện do ai quản lý, sử dụng, hưởng lợi.
Hai là, nâng cao chất lượng yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên. Việc xác minh dòng tiền phải cụ thể đến từng tài khoản, từng giai đoạn giao dịch, xác định người đứng tên và người thực tế sử dụng. Đối với vụ án có nhiều giao dịch cần xây dựng sơ đồ dòng tiền từ tội phạm nguồn qua các tài khoản trung gian đến người hưởng lợi cuối cùng.
Ba là, tập trung chứng minh yếu tố chủ quan của người thực hiện hành vi Rửa tiền. Đối với từng người nhận, chuyển, rút hoặc sử dụng tiền phải làm rõ căn cứ xác định họ biết hoặc có cơ sở để biết nguồn tiền bất hợp pháp, mục đích thực hiện giao dịch và lợi ích được hưởng.
Bốn là, việc truy tìm, phong tỏa, kê biên tài sản phải được tiến hành sớm, kịp thời và xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án; không chờ đến cuối giai đoạn điều tra mới xác minh điều kiện tài sản.
Năm là, tăng cường năng lực phân tích dữ liệu tài chính, chứng cứ điện tử và tài sản mã hóa; từng bước ứng dụng công nghệ trong xử lý sao kê và sơ đồ hóa dòng tiền; đồng thời tăng cường phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát với các tổ chức tín dụng, cơ quan thuế, đăng ký đất đai, đăng ký doanh nghiệp và các cơ quan quản lý tài sản để kịp thời phát hiện, phong tỏa và thu hồi tài sản.
5. Kết Luận
Tội phạm Rửa tiền trên địa bàn thành phố Hà Nội tuy số vụ được phát hiện, xử lý chưa nhiều nhưng có xu hướng ngày càng phức tạp, quy mô tiền, tài sản lớn và phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi.
Để nâng cao hiệu quả đấu tranh, xử lý loại tội phạm này, cần thực hiện đồng thời việc chứng minh tội phạm nguồn, truy tìm dòng tiền và thu hồi tài sản ngay từ giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án. Qua đó, bảo đảm xử lý toàn diện hành vi phạm tội và hạn chế tối đa việc tẩu tán, hợp pháp hóa tài sản do phạm tội mà có./.
Phạm Thu Phương Anh - Phòng 2