Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, việc đương sự vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là tình huống thường xuyên phát sinh. Việc áp dụng pháp luật vẫn còn có những cách hiểu khác nhau về hậu quả pháp lý của việc nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia phiên họp. Từ thực tiễn giải quyết vụ án dân sự, tác giả trao đổi một số quan điểm về việc áp dụng quy định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp nguyên đơn vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ số 01 tại phường T, thành phố H giữa bà Nguyễn Thị T và ông Vương Đình Ph, Tòa án cấp sơ thẩm đã có thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt hợp lệ hai lần nhưng nguyên đơn đều vắng mặt. Do vậy, ngày 30/01/2026 Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Nguyên đơn kháng cáo cho rằng việc đình chỉ giải quyết vụ án là không có căn cứ.
Vấn đề đặt ra là: Việc nguyên đơn được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải có phải là căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hay không?
Điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan”.

Quan điểm thứ nhất cho rằng Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án là có cơ sở.
Theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự có nghĩa vụ chấp hành các yêu cầu của Tòa án, tham gia tố tụng và cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Nguyên đơn là người khởi kiện nên phải tích cực thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm làm rõ các tình tiết của vụ án.
Trong vụ việc nêu trên, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng nguyên đơn không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Việc không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án có thể làm kéo dài thời gian tố tụng, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án và quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự khác. Đồng thời, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án và được đặt trong Chương XIII “Thủ tục hòa giải và chuẩn bị xét xử” nên căn cứ đình chỉ quy định tại điều luật này được áp dụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, không chỉ giới hạn tại giai đoạn xét xử sơ thẩm. Vì vậy, Tòa án có thể áp dụng điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp này.
Theo cách hiểu này, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ quy định: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt” mà không quy định cụ thể là vắng mặt tại phiên tòa hay vắng mặt tại các buổi làm việc trong quá trình Tòa án giải quyết. Vì vậy, khi nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mà không có lý do chính đáng thì có thể được xem là từ bỏ khởi kiện. Trong trường hợp đó, Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án nhằm bảo đảm hiệu quả tố tụng, tránh kéo dài việc giải quyết vụ án.
Quan điểm thứ hai cho rằng việc đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp này là không phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đây là quy định thường được viện dẫn khi xem xét hậu quả pháp lý đối với trường hợp nguyên đơn không tham gia tố tụng. Tuy nhiên, để áp dụng chính xác quy định này cần đặt trong mối liên hệ với các quy định khác của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Có thể thấy, căn cứ đình chỉ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được xây dựng tương ứng với quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm. Bản chất của quy định này là xử lý trường hợp nguyên đơn từ bỏ việc theo đuổi yêu cầu khởi kiện khi vụ án đã được đưa ra xét xử.
Trong khi đó, đối với giai đoạn chuẩn bị xét xử, cụ thể là phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định hậu quả pháp lý là đình chỉ giải quyết vụ án khi đương sự vắng mặt. Theo khoản 3 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định trong trường hợp người được Tòa án triệu tập vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án có trách nhiệm thông báo kết quả phiên họp cho họ. Như vậy, quy định này cho thấy việc vắng mặt của đương sự tại phiên họp không làm phát sinh hậu quả chấm dứt việc giải quyết vụ án.
Quan điểm trên cũng phù hợp với hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại Mục 17 Phần IV Công văn số 163/TANDTC-PC ngày 10/9/2024 về giải đáp một số vướng mắc trong xét xử, cụ thể: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, cần phân biệt như sau:
- Trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để lấy lời khai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử văng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.
- Trường hợp nguyên đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mà vẫn vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho đương sự vắng mặt. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành các thủ tục để giải quyết vụ án theo quy định.
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai. Theo tác giả, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự là quy định làm phát sinh hậu quả pháp lý là đình chỉ giải quyết vụ án, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền khởi kiện của đương sự, nên phải được áp dụng chặt chẽ và không thể giải thích theo hướng mở rộng. Mặc dù Điều 217 được quy định trong Chương XIII về hòa giải và chuẩn bị xét xử, nhưng đối với trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, pháp luật đã có cơ chế xử lý riêng tại khoản 3 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bên cạnh đó, mục đích của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là tạo điều kiện để các đương sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp. Việc nguyên đơn vắng mặt tại phiên họp chỉ thể hiện họ không có ý chí tiếp tục hòa giải tại thời điểm đó, chứ không đồng nghĩa với việc từ bỏ việc khởi kiện. Do đó, trường hợp nguyên đơn được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không phải là căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Qua vụ việc nêu trên cho thấy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa quy định cụ thể hậu quả pháp lý đối với trường hợp nguyên đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại hai lần tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, dẫn đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật khác nhau, nhiều trường hợp quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đã bị cấp phúc thẩm hủy.
Mặc dù Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn tại Công văn số 163/TANDTC-PC ngày 10/9/2024 về trường hợp này, nhưng đây chỉ là văn bản giải đáp nghiệp vụ mang tính định hướng, tham khảo không phải văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, theo tác giả khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự cần nghiên cứu bổ sung Điều 207 nội dung theo hướng xác định trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Trên cơ sở đó, Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và tiếp tục thực hiện các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo quy định. Việc hoàn thiện quy định pháp luật không chỉ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho hoạt động áp dụng pháp luật mà còn góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án dân sự./.
Nguyễn Hồng Hạnh – Phòng 9