Trong bối cảnh hành vi làm giả và sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự (BLHS) ngày càng diễn biến phức tạp, việc xác định đúng tội danh và phạm vi trách nhiệm hình sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thống nhất, chính xác và phù hợp với bản chất của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án cho thấy vẫn còn tồn tại cách hiểu và áp dụng pháp luật chưa thống nhất, không ít trường hợp người thực hiện hành vi làm giả giấy tờ, con dấu sau đó sử dụng chính giấy tờ do mình làm giả hoặc bán kiếm lời bị khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đồng thời về cả hành vi làm giả và hành vi sử dụng giấy tờ, con dấu giả. Việc một chuỗi hành vi thống nhất về ý chí và mục đích lại đang bị “tách nhỏ” thành hai tội danh độc lập, nên có vụ áp dụng pháp luật chưa phù hợp với bản chất của hành vi phạm tội và nguyên tắc của pháp luật hình sự. Từ thực tiễn nêu trên, bài viết phân tích một vụ án cụ thể để trao đổi về cách xác định tội danh đối với người vừa làm giả vừa sử dụng chính con dấu, tài liệu do mình làm giả, từ đó đề xuất cách hiểu phù hợp đối với Điều 341 BLHS.

Tóm tắt nội dung vụ án
Nội dung vụ án: Năm 2022, thông qua mạng xã hội, Trần Thị Thanh G đặt làm giả 01 con dấu tròn “BỆNH VIỆN ĐA KHOA SÓC SƠN”, 06 con dấu tên các bác sĩ Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn và 01 con dấu “đã thu tiền”. Sau đó, G đã tự mình điền hoặc nhờ người khác đánh máy thông tin, ký giả chữ ký của các bác sĩ, giám đốc bệnh viện đa khoa Sóc Sơn và đóng dấu tròn “BỆNH VIỆN ĐA KHOA SÓC SƠN”, dấu tên bác sĩ và dấu “đã thu tiền” để làm ra 31 giấy khám sức khỏe, giấy khám sức khỏe của người lái xe, giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm giả để bán nhằm hưởng lợi bất chính. Thực tế G đã bán cho chị Nguyễn Huyền A 03 giấy khám sức khỏe giả, chị Nguyễn Thị L 01 giấy khám sức khỏe giả và chị Nguyễn Thị M 01 giấy nghỉ việc hưởng bảo hiểm giả.
Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố H kết luận: Toàn bộ con dấu, chữ ký trong các tài liệu thu giữ đều là giả.
Bản án sơ thẩm số 17/HSST ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện S, thành phố H áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341, điểm b khoản 2 Điều 341 BLHS xử phạt Trần Thị Thanh G 02 năm tù về tội “Sử dụng con dấu giả của cơ quan, tổ chức” và 03 năm tù về tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”, buộc G chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 05 năm tù.
Nhóm tác giả thấy cấp sơ thẩm truy tố, xét xử Trần Thị Thanh G về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 341 BLHS là có căn cứ do G đã có hành vi đặt mua con dấu giả rồi đóng vào các tài liệu để làm 31 giấy tờ giả.
Tuy nhiên, việc cấp sơ thẩm truy tố, xét xử G về tội “Sử dụng con dấu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 BLHS là chưa phù hợp theo quy định pháp luật, bởi lẽ việc G sử dụng con dấu tròn “BỆNH VIỆN ĐA KHOA SÓC SƠN” giả để đóng vào giấy khám sức khỏe, giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội do G tự làm và tự ký chữ ký giả của các bác sỹ và giám đốc Bệnh viện Đa khoa Sóc Sơn chỉ là một trong các hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức với mục đích thu lợi.
G đã phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 341 BLHS (Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên), việc các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm tách hành vi sử dụng con dấu giả “BỆNH VIỆN ĐA KHOA SÓC SƠN” của Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn để đóng vào giấy khám sức khỏe, giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội và điều tra, truy tố, xét xử G về một tội danh độc lập là tội “Sử dụng con dấu giả của cơ quan, tổ chức” với tình tiết tăng nặng định khung “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 BLHS là không đúng, gây bất lợi cho G.
Qua vụ án nêu trên có thể thấy việc xác định ranh giới giữa hành vi làm giả và hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả vẫn còn những cách hiểu khác nhau trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Do đó, cần có cách áp dụng thống nhất đối với Điều 341 BLHS nhằm bảo đảm việc định tội danh chính xác, khách quan và phù hợp với bản chất của hành vi phạm tội.
Rất mong sự quan tâm trao đổi của các đồng nghiệp./.
Đặng Thị Kiều Diễm, Phạm Hoàng Lan Phương – Phòng 7