Hôn nhân thực tế theo pháp luật Việt Nam và một số vấn đề cần lưu ý trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự

BTV Phòng 9

        1. Khái quát chung

        Hôn nhân là một trong những chế định cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình, đồng thời là quan hệ xã hội đặc biệt gắn liền với đời sống nhân thân, tài sản của con người trong xã hội. Theo các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay thì việc đăng ký kết hôn là căn cứ pháp lý chính thức làm phát sinh quan hệ vợ chồng hợp pháp giữa nam và nữ. Tuy nhiên, trong thực tiễn xã hội Việt Nam, đặc biệt là ở các giai đoạn lịch sử trước đây, tình trạng nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn diễn ra tương đối phổ biến. Nó phản ánh một mặt khác trong đời sống hôn nhân và là “tàn dư” của lịch sử để lại. Do đó, trong thực tiễn pháp lý dần hình thành khái niệm “hôn nhân thực tế”.

        Hôn nhân thực tế là hiện tượng xã hội – pháp lý mang tính đặc thù của Việt Nam, phản ánh điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa và trình độ quản lý hộ tịch trong từng giai đoạn. Trong thời kỳ chiến tranh chia cắt hai miền Nam – Bắc; giao thông đi lại, quản lý hành chính còn nhiều hạn chế, việc đăng ký kết hôn chưa được thực hiện đầy đủ, nhưng các quan hệ hôn nhân trên thực tế vẫn được xã hội, gia đình và cộng đồng thừa nhận thông qua việc tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và giữa nam, nữ phát sinh việc chung sống thực tế. Vì vậy, để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và giữ gìn sự ổn định của gia đình, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam qua các thời kỳ đã có những quy định chuyển tiếp, linh hoạt nhằm công nhận quan hệ hôn nhân thực tế trong một số trường hợp nhất định.

        Qua từng giai đoạn lập pháp, quan điểm của Nhà nước đối với hôn nhân thực tế có sự thay đổi theo hướng tăng cường quản lý bằng thủ tục đăng ký kết hôn. Nếu như trước đây pháp luật và thực tiễn xét xử có xu hướng thừa nhận rộng rãi hôn nhân thực tế, thì từ sau khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực, việc đăng ký kết hôn trở thành điều kiện bắt buộc để xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp. Đặc biệt, Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Thông tư liên tịch số  01/2001/TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã xác định rõ các mốc thời gian và điều kiện công nhận hôn nhân thực tế, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các quan hệ hôn nhân phát sinh trong giai đoạn chuyển tiếp. Đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, pháp luật không còn thừa nhận việc xác lập mới quan hệ hôn nhân thực tế, mà chỉ điều chỉnh hậu quả pháp lý của việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.

        Mặc dù hệ thống pháp luật hiện hành đã có các quy định tương đối cụ thể, song thực tiễn giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến hôn nhân thực tế vẫn phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc. Các tranh chấp thường tập trung ở việc xác định có hay không quan hệ hôn nhân thực tế; xác định thời điểm bắt đầu chung sống; đánh giá chứng cứ chứng minh việc “chung sống như vợ chồng”; giải quyết quan hệ tài sản, con chung; phân biệt giữa trường hợp không công nhận quan hệ vợ chồng với hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trong nhiều trường hợp, việc áp dụng pháp luật còn chưa thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến tình trạng bản án bị sửa, hủy hoặc kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

        Đối với hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình, các tranh chấp liên quan đến hôn nhân thực tế cũng đặt ra nhiều yêu cầu nghiệp vụ phức tạp. Kiểm sát viên không chỉ phải kiểm sát chặt chẽ việc thu thập, đánh giá chứng cứ mà còn phải xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, lựa chọn văn bản pháp luật áp dụng phù hợp theo từng thời kỳ lịch sử và bảo đảm việc giải quyết vụ án vừa đúng pháp luật, vừa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và người có liên quan.

        Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu một cách hệ thống các quy định pháp luật về hôn nhân thực tế, đồng thời phân tích những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xét xử và kiểm sát giải quyết các vụ án liên quan đến hôn nhân thực tế có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng giải quyết, kiểm sát giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình, đồng thời kiến nghị hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

        2. Các quy định cơ bản của pháp luật Việt Nam về hôn nhân thực tế

        2.1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành:

        Vấn đề hôn nhân thực tế hiện nay được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Trong đó, văn bản pháp luật có ý nghĩa trung tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo quy định tại Điều 9 của Luật này, việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và việc kết hôn không được đăng ký thì không có giá trị pháp lý. Quy định này thể hiện nguyên tắc đăng ký kết hôn là điều kiện bắt buộc để xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp theo pháp luật hiện hành. Trên cơ sở đó, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng; nếu có yêu cầu thì Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con, Điều 15 và Điều 16 của Luật này vẫn quy định việc giải quyết quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên theo nguyên tắc bảo đảm quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em, đồng thời áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật có liên quan để giải quyết tranh chấp tài sản phát sinh trong quá trình chung sống.

        2.2. Nghị quyết số 35/2000/QH10 về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

        Bên cạnh Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, văn bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết các trường hợp hôn nhân thực tế là Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Nghị quyết này quy định theo hướng phân chia các quan hệ nam nữ chung sống như vợ chồng thành từng giai đoạn lịch sử khác nhau để xác định việc có được công nhận là hôn nhân hợp pháp hay không. Nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 35/2000/QH10 là phân chia việc xử lý quan hệ hôn nhân thực tế theo từng mốc thời gian cụ thể, tương ứng với sự phát triển của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

        Đối với quan hệ hôn nhân xác lập trước ngày 03/01/1987

        Nghị quyết quy định trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; nếu có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình.

        Đây là văn bản pháp lý đầu tiên thừa nhận “hôn nhân thực tế” đối với các trường hợp chung sống trước ngày 03/01/1987; đặt nền tảng quan trọng cho việc giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình, trong đó nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn và phát sinh từ thực tiễn đời sống, do lịch sử để lại.

        Đối với quan hệ nam nữ chung sống từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001

        Nghị quyết quy định Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực. Trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

        Trường hợp này thì pháp luật không mặc nhiên công nhận là vợ chồng hợp pháp. Việc nam nữ chung sống trong khoảng thời gian từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 được tạo điều kiện hợp thức hóa quan hệ bằng việc đăng ký kết hôn; thời hạn đăng ký là từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003.

        Kể từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng. Đây là quy định chuyển tiếp rất quan trọng và hiện nay vẫn được áp dụng phổ biến trong thực tiễn xét xử.

        Đối với quan hệ xác lập từ ngày 01/01/2001 trở đi thì mọi trường hợp kết hôn đều phải đăng ký. Nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng hợp pháp. Quan hệ giữa các bên trong trường hợp này chỉ được giải quyết theo quy định về con chung, tài sản chung, nghĩa vụ dân sự mà không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Quy định này hiện nay tiếp tục được kế thừa tại Điều 9 và Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

        2.3.Thông tư liên tịch số 01/2001/TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

        Thông tư liên tịch số 01/2001/TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp là văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, trong đó có nhiều quy định quan trọng liên quan đến việc xác định và giải quyết quan hệ hôn nhân thực tế. Thông tư này được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của Nghị quyết số 35/2000/QH10, đồng thời tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho Tòa án và Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình có liên quan đến việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.

        Một trong những nội dung quan trọng nhất của Thông tư là hướng dẫn xác định thế nào là “nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng”. Theo đó, việc chung sống như vợ chồng được hiểu là nam và nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng. Để xác định quan hệ này, Thông tư hướng dẫn cần xem xét tổng hợp nhiều yếu tố như: có tổ chức lễ cưới hay không; có được gia đình hai bên chấp nhận hay không; có thực tế cùng chung sống, chăm sóc, giúp đỡ nhau hay không; có con chung; có cùng xây dựng kinh tế gia đình; có được xã hội, cơ quan, đoàn thể hoặc chính quyền địa phương coi là vợ chồng hay không. Đây là các dấu hiệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thực tiễn bởi phần lớn các quan hệ hôn nhân thực tế phát sinh từ nhiều năm trước, không có giấy chứng nhận kết hôn hoặc tài liệu hộ tịch đầy đủ để chứng minh.

        Thông tư đồng thời hướng dẫn việc xử lý quan hệ hôn nhân thực tế theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể:

        + Đối với trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 và có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì được công nhận là vợ chồng hợp pháp dù chưa đăng ký kết hôn. Nếu phát sinh tranh chấp hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết theo thủ tục ly hôn thông thường như đối với hôn nhân hợp pháp.

        + Đối với các trường hợp chung sống từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001, Thông tư xác định các bên có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn luật định; nếu hết thời hạn mà không đăng ký thì không được công nhận là vợ chồng. Trong trường hợp này, nếu có tranh chấp, Tòa án không giải quyết ly hôn mà chỉ tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng và giải quyết các vấn đề liên quan đến con chung, tài sản và nghĩa vụ dân sự.

        + Đối với quan hệ xác lập từ ngày 01/01/2001 trở đi thì mọi trường hợp kết hôn đều bắt buộc phải đăng ký; nếu không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận là vợ chồng hợp pháp.

        Ngoài ra, Thông tư còn hướng dẫn việc giải quyết hậu quả pháp lý của quan hệ nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Theo đó, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con vẫn được giải quyết như trong hôn nhân hợp pháp nhằm bảo đảm quyền lợi của con chưa thành niên. Đối với tài sản chung, Thông tư xác định ưu tiên sự thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì áp dụng các quy định của pháp luật dân sự để giải quyết, đồng thời phải xem xét công sức đóng góp của mỗi bên và bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.

        Có thể thấy rằng, Thông tư liên tịch số 01/2001/TANDTC-VKSNDTC-BTP có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về hôn nhân thực tế, nhất là trong bối cảnh nhiều quan hệ hôn nhân được xác lập từ các giai đoạn lịch sử trước đây nhưng chưa thực hiện đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, do nhiều quy định còn mang tính định tính, chưa có tiêu chí cụ thể về mức độ chứng minh hoặc việc xác định chấm dứt hôn nhân thực tế nên trong thực tiễn áp dụng vẫn phát sinh nhiều cách hiểu và quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

        2.4. Án lệ số 41/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 23/02/2021 và được công bố theo Quyết định số 42/QĐ-CA ngày 12/3/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về “chấm dứt hôn nhân thực tế”

        Án lệ số 41 được phát triển từ Bản án dân sự phúc thẩm số 48/2010/DSPT ngày 29/7/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng về vụ án “Tranh chấp chia di sản thừa kế và chia tài sản chung” tại tỉnh Kon Tum.

        Nội dung cốt lõi của án lệ là xác định hậu quả pháp lý trong trường hợp tồn tại nhiều quan hệ hôn nhân thực tế qua các thời kỳ khác nhau. Theo tình huống án lệ, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn nhưng sau đó họ không còn chung sống với nhau và trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực, có người chung sống với nhau như vợ chồng với người khác. Quan hệ hôn nhân đầu tiên và quan hệ hôn nhân thứ hai đều là hôn nhân thực tế. Trong trường hợp này, án lệ xác định phải coi quan hệ hôn nhân thực tế đầu tiên đã chấm dứt.

        Theo tinh thần của Án lệ thì khi quan hệ hôn nhân thực tế trước đã chấm dứt hoàn toàn trên thực tế, các bên không còn chung sống, không còn quan hệ tình cảm, kinh tế, đồng thời đã xác lập gia đình mới ổn định, công khai thì cần xác định quan hệ hôn nhân trước đã chấm dứt. Từ đó, quan hệ hôn nhân thực tế sau được pháp luật bảo vệ nhằm bảo đảm sự ổn định của quan hệ gia đình thực tế và quyền lợi của những người liên quan, đặc biệt là phụ nữ và con chung.

        Có thể nói, Án lệ số 41 đã bổ sung khoảng trống của pháp luật liên quan đến việc “chấm dứt hôn nhân thực tế”. Trước khi có án lệ này thì pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam chưa có văn bản nào quy định về trường hợp chấm dứt hôn nhân thực tế mà không có bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tiễn xét xử, đặc biệt trong các tranh chấp thừa kế và tài sản. Án lệ số 41/2021/AL đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án giải quyết thống nhất các trường hợp tương tự.

        3. Việc xác định hôn nhân thực tế thông qua một số vụ án cụ thể

        3.1. Vụ án tranh chấp chia thừa kế tài sản giữa nguyên đơn - ông Đào Văn Th và bị đơn – ông Nguyễn Đăng Q

        Nội dung vụ án: Bà Đào Thị V (mất năm 2014) có chồng là Đỗ Văn Nh (liệt sĩ hi sinh năm 1967). Bà V và ông Nh không có con chung, con nuôi, con riêng. Bố mẹ bà V đều chết trước bà V; hiện bà V có 03 người anh em ruột là ông Đào Văn V, Đào Công Đ, Đào Văn Th.

        Ông Nguyễn Đăng Đ (chết năm 2015) có vợ là bà Nguyễn Thị Ch. Ông Đ và bà Ch chung sống với nhau, không đăng ký kết hôn, có 03 người con là Nguyễn Đăng Q, Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị K (anh Q là con út, sinh năm 1973).

        Năm 1974, ông Đ và bà V bắt đầu chung sống với nhau, không có con chung. Anh Q sống cùng bà V và ông Đ từ năm 1979 cho đến khi trưởng thành lập gia đình vào năm 2001 thì ở riêng.

        Nguyên đơn là ông Đào Văn Th yêu cầu chia di sản thừa kế do bà V để lại là quyền sử dụng thửa đất số 219, TBĐ số 12, diện tích 271m2 (đo thực tế 284,1m2) và các tài sản gắn liền với đất là nhà cấp bốn cùng các công trình, cây trồng trên đất có địa chỉ tại thôn Đ, xã CV, Hà Nội; đã được UBND huyện T cấp GCN QSDĐ (đất ở) số U 040528 ngày 25/9/2002 mang tên hộ bà Đào Thị V.

        Anh Q không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bố anh và bà V là quan hệ hôn nhân thực tế, được ghi nhận tại sổ hộ khẩu số 370305 lập ngày 11/9/2002. Bà V chết, bố anh là người thừa kế duy nhất. Nay bố anh đã chết thì anh và các chị em được hưởng.

        Lời khai người làm chứng thể hiện bà V và ông Đ chung sống với nhau từ năm 1974. Còn theo UBND xã CV cung cấp thì trước khi ông Đ chết, tình trạng hôn nhân giữa ông Đ với bà Ch có tồn tại quan hệ vợ chồng hay không thì không rõ. Giữa ông Đ và bà V chỉ là ông Đ đến sống cùng bà V. Theo sổ theo dõi đăng ký kết hôn của xã CV còn lưu giữ từ năm 1989 đến khi ông Đ chết thì bà V và ông Đ không thể hiện việc có đăng ký kết hôn với nhau. Trước năm 1989 không còn lưu giữ được sổ.

        Căn cứ kết quả tra cứu hồ sơ tàng thư hộ khẩu, lưu tại Công an huyện, hộ bà Đào Thị V thể hiện các nhân khẩu sau: bà Đào Thị V– chủ hộ; ông Nguyễn Đăng Đ – chồng.

        Bản án sơ thẩm và phúc thẩm nhận định ông Đ và bà V không phải là vợ chồng (không công nhận là hôn nhân thực tế) vì trước khi sống chung với bà V, ông Đ đã có vợ là bà Ch, ông Đ và bà Ch chưa ly hôn nên hôn nhân giữa ông Đ và bà V không được công nhận, từ đó tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn Th về chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của bà Đào Thị V.

        Quan điểm của tác giả: không có tài liệu nào xác định ông Đ và bà Ch có đăng ký kết hôn. Trên thực tế, ông Đ và bà Ch chung sống với nhau từ trước năm 1974 (thời điểm bắt đầu chung sống với bà V), có 03 con chung; từ năm 1974 đến khi mất, ông Đ chung sống với bà V. Việc chung sống giữa bà V và ông Đ là công khai, liên tục, có người làm chứng xác nhận và cũng được thể hiện tại sổ hộ khẩu của bà V. Đặc biệt, anh Q là con trai ông Đ và bà Ch còn chung sống với bà V, ông Đ từ năm 1979 cho đến khi lập gia đình năm 2001. Căn cứ mục 2.a, 2.d Thông tư số 01; mục 3.a Nghị quyết số 35 nêu trên có cơ sở xác định quan hệ giữa ông Đ và bà V là hôn nhân thực tế. ... Tuy nhiên, thời điểm phát sinh tranh chấp là năm 2020, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao chưa công bố Án lệ số 41, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm nhận định trước khi sống chung với bà V, ông Đ đã có vợ là bà Ch, ông Đ và bà Ch chưa ly hôn nên hôn nhân giữa ông Đ và bà V không được công nhận cũng là có cơ sở.

        Vụ án này là một minh chứng rõ nét về tầm quan trọng của Án lệ số 41 trong việc xác định “chấm dứt hôn nhân thực tế” – hôn nhân thực tế có thể được coi là chấm dứt mà không cần thiết phải có bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

        3.2. Vụ án tranh chấp chia thừa kế giữa nguyên đơn – ông Lê Hữu H và bà Lê Thị X với bị đơn là ông Đào Đức B

        Ông Đào Đức B và bà Nguyễn Thị Ng chung sống với nhau từ cuối năm 1970, không đăng ký kết hôn nhưng gia đình ông B có tổ chức lễ dạm hỏi để ông B và bà Ng về chung sống với nhau. Tháng 7/1991, bà Ng sinh con trai là Đào Đức T. Tháng 4/1977, ông B và bà Ng có thêm 01 người con gái là Đào Thị H. Sau khi bà Ng sinh con gái, ông B và bà Ng không còn chung sống cùng nhau, Ông B chuyển về sống cùng bố mẹ đẻ tại phố K, thành phố H; còn bà Ng và 02 con sinh sống ở xã XP, thành phố H. Thỉnh thoảng ông B có về thăm con nhưng không ở lại, giữa ông B và bà Ng không phát sinh quan hệ vợ chồng. .

        Khoảng cuối năm 1978, ông B  quen biết với bà L - ở gần nhà ông. Đầu năm 1979, bà L và ông B chuyển về sống chung. Khi dọn về sống chung với nhau, ông và bà L đều khó khăn, không có điều kiện tổ chức đám cưới hỏi nhưng hai bên gia đình đều biết và chấp thuận.  Ngày 10/12/1979, ông B dùng tiền bán nhà của mình để mua thửa đất tại 29 TKC hiện nay và đã được UBND quận H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông B và bà L. Tháng 9/1980, ông chuyển khẩu về đây. Bà L có hộ khẩu tại phường TL nên ông bà không làm thủ tục chuyển hộ khẩu về cùng địa chỉ với ông. UBND phường TL đã xác nhận ông B và bà L chung sống từ năm 1980. Từ năm 1982, sau khi ông và bà L ổn định nhà cửa, cuộc sống thì thỉnh thoảng, bà L còn đi cùng ông về Xuân Phương thăm các con ông và gặp bà Ng. Khi các con ông trưởng thành, lập gia đình, bà L cùng ông về lo việc mừng cho các con.

        Năm 2014, khi Nhà nước thu hồi đất, ông bà bị thu hồi 19,55m2 và được bồi thường số tiền 1.165.218.800 đồng. Toàn bộ số tiền bồi thường, ông bà sử dụng, phần còn lại 500 triệu đồng gửi tiết kiệm đứng tên bà L.

        Năm 2022, bà L ốm nằm viện và sau đó chết do nhiễm Covid; ông H và bà X là em bà L trực tiếp chăm sóc. Việc nộp tiền, lo chi phí ma chay do gia đình bà L sắp xếp vì lúc này ông B tuổi đã cao, lại trong giai đoạn dịch bệnh nên không lo được.

        Ông H và bà X khởi kiện yêu cầu chia di sản do bà L để lại là nhà đất tại 29 TKC và tiền tiết kiệm. Ông H và bà X khẳng định ông B và bà L không phải là vợ chồng; bố mẹ bà L đều đã chết trước bà L. Bà L chỉ có 02 người em ruột là ông H và bà X, do đó hai ông bà là người thừa kế của bà L.

        Ông B có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án công nhận giữa ông và bà L có quan hệ hôn nhân thực tế - là vợ chồng nên ông là hàng thừa kế thứ nhất duy nhất của bà L, được hưởng toàn bộ di sản do bà L để lại.

        TAND quận HB và TAND thành phố H đều xác định giữa bà L và ông B không tồn tại hôn nhân thực tế và không công nhận ông bà là vợ chồng với lý do ông B và bà Ng chưa tiến hành thủ tục ly hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Không có tài liệu chứng minh ông B và bà L chung sống với nhau trong thời gian dài vì hộ khẩu thường trú của ông bà ở hai nơi khác nhau; khi bà L ốm và chết, ông B không chăm sóc, lo ma chay… Từ đó, bản án sơ thẩm và phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xác định ông H và bà X là người thừa kế của bà L…; không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông B.

        Quan điểm của tác giả: Năm 1979, bà L và ông B có mua mảnh đất tại 101 LY (nay là 29 TKC). Căn cứ tài liệu do Phòng TNMT – UBND quận HB cung cấp, thể hiện thời điểm bà L mua nhà đất là năm 1979. Hồ sơ cấp GCN cho ông B, bà L thể hiện ông bà sinh sống tại đây từ năm 1979. Lời khai bà Ng cũng xác nhận từ sau khi bà sinh con gái thứ hai vào năm 1977, bà và ông B không còn quan hệ tình cảm, không chung sống với nhau, đến năm 1982, ông B mới trở lại thăm con và có nói với bà đã lấy vợ mới là bà L. Như vậy, sau khi ông B và bà Ng không còn chung sống với nhau thì năm 1979, ông B chung sống với bà L cho đến khi bà L chết, không có con chung nhưng có tài sản chung hợp pháp đứng tên hai ông bà là nhà đất tại 29 TKC. Tại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 13/5/2025 của UBND phường TL, do ông B cung cấp có nội dung ông B có đăng ký nơi cư trú tại 11B, tổ 15, phường TL từ ngày 11/9/1980 đến nay và chung sống như vợ chồng với bà Lê Thị L, sinh ngày 01/5/1949, địa chỉ cư trú tại số 98, tổ 25, phường TL từ năm 1980 đến khi bà L chết theo Trích lục khai tử số 78/TLKT do UBND cấp ngày 04/4/2022 nhưng chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn. Do đó, có cơ sở xác định bà L và ông B chung sống với nhau từ trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực pháp luật. Các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án này tương tự như các tình tiết, sự kiện pháp lý trong án lệ số 41. Do đó, căn cứ điểm a, khoản 3, Điều 3 Nghị quyết số 35/NQ-QH10 ; mục 1, điểm d, mục 2 Thông tư liên tịch số 01 và Án lệ số 41 nêu trên, có cơ sở xác định hôn nhân giữa ông B và bà N đã chấm dứt, hôn nhân giữa ông B và bà L là hôn nhân thực tế.

        IV. Một số lưu ý trong kiểm sát việc giải quyết tranh chấp liên quan đến hôn nhân thực tế 

        Trong thực tiễn giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình, tranh chấp liên quan đến hôn nhân thực tế là dạng việc khá phổ biến, đặc biệt đối với các trường hợp nam, nữ chung sống với nhau trong thời gian dài nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Việc xác định quan hệ hôn nhân có được pháp luật công nhận hay không có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết các vấn đề về quan hệ nhân thân, con chung, tài sản chung và thừa kế.

        Với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, kiểm sát viên khi nghiên cứu, giải quyết loại việc này cần đặc biệt lưu ý một số vấn đề sau:

        Thứ nhất, xác định chính xác thời điểm xác lập quan hệ chung sống như vợ chồng

        Đây là vấn đề có ý nghĩa then chốt bởi pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam có quy định chuyển tiếp đối với từng giai đoạn lịch sử khác nhau.

        Theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, việc công nhận hay không công nhận quan hệ hôn nhân thực tế phụ thuộc vào thời điểm nam, nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng.

        Đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau trước ngày 03/01/1987 và có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì được công nhận là vợ chồng, mặc dù chưa đăng ký kết hôn. Đối với trường hợp xác lập quan hệ từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 thì phải thực hiện đăng ký kết hôn trong thời hạn luật định; nếu hết thời hạn mà không đăng ký thì không được công nhận là vợ chồng. Đối với các trường hợp phát sinh từ ngày 01/01/2001 trở đi, việc chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn không làm phát sinh quan hệ vợ chồng hợp pháp.

        Do đó, kiểm sát viên cần thu thập, đánh giá đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để xác định chính xác thời điểm bắt đầu chung sống như: lời khai của các đương sự, xác nhận của chính quyền địa phương, hộ khẩu, giấy khai sinh của con, giấy tờ cưới hỏi, xác nhận của thân nhân và người làm chứng; thời điểm tạo lập tài sản chung (nếu có)…

        Thứ hai, xác định các bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật hay không

        Việc công nhận hôn nhân thực tế chỉ được đặt ra khi tại thời điểm xác lập quan hệ chung sống, các bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật tương ứng với từng thời kỳ.

        Kiểm sát viên cần làm rõ các điều kiện về độ tuổi kết hôn, sự tự nguyện của các bên và việc không thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

        Trường hợp một trong các bên chưa đủ tuổi kết hôn, bị cưỡng ép kết hôn hoặc vi phạm các điều cấm của pháp luật thì dù có chung sống trong thời gian dài cũng không có căn cứ công nhận quan hệ vợ chồng.

        Trong thực tiễn, có những trường hợp đương sự cho rằng việc tổ chức cưới hỏi, sinh sống lâu dài và có con chung đương nhiên làm phát sinh quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, quan điểm này không phù hợp với quy định của pháp luật bởi việc công nhận hôn nhân thực tế phải đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định.

        Thứ ba, đánh giá toàn diện chứng cứ để xác định việc chung sống như vợ chồng

        Khái niệm “chung sống như vợ chồng” không chỉ được hiểu là việc nam, nữ cùng cư trú tại một nơi ở mà còn phải thể hiện sự gắn bó ổn định, công khai và được gia đình hoặc xã hội thừa nhận như quan hệ vợ chồng.

        Khi kiểm sát việc giải quyết vụ án, kiểm sát viên cần đánh giá tổng hợp các tài liệu, chứng cứ như:  họ có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau không; việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc có được người khác hay tổ chức chứng kiến không? Trên thực tế, họ có thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình hay không? Việc sinh con chung, quá trình tạo lập, quản lý tài sản chung.... Như ở vụ án thứ hai thì giữa ông B và bà L mặc dù không tổ chức lễ cưới khi về chung sống, không có con chung; không có cùng hộ khẩu thường trú nhưng thực tế họ chung sống với nhau và cùng tạo lập tài sản từ năm 1979, được chính quyền địa phương xác nhận và thể hiện ở việc cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cùng quản lý tài sản chung. Do đó, việc xác định ông B và bà L là vợ chồng (hôn nhân thực tế) là có cơ sở.

        Việc xác định quan hệ hôn nhân thực tế không thể chỉ căn cứ vào lời khai đơn lẻ của đương sự mà phải được xem xét trên cơ sở tổng hợp, đối chiếu toàn bộ hệ thống chứng cứ trong hồ sơ vụ án theo nguyên tắc khách quan, toàn diện và đầy đủ.

        Thứ tư, xác định có hay không việc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

        Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng là nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình ở Việt Nam.

        Do đó, trong trường hợp tại thời điểm xác lập quan hệ chung sống, một bên đang có vợ hoặc chồng hợp pháp thì quan hệ chung sống mới không được công nhận là hôn nhân thực tế, kể cả khi các bên đã chung sống ổn định trong thời gian dài và có con chung.

        Trong thực tiễn xét xử, việc xác định tình trạng hôn nhân của các bên tại thời điểm xác lập quan hệ thường gặp nhiều khó khăn do hồ sơ lưu trữ không đầy đủ hoặc việc ly hôn trước đó chưa được chứng minh rõ ràng. Vì vậy, kiểm sát viên cần yêu cầu Tòa án xác minh đầy đủ thông tin hộ tịch, hồ sơ đăng ký kết hôn, bản án ly hôn hoặc các tài liệu có liên quan nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật.

        Thứ năm, lưu ý việc giải quyết hậu quả pháp lý khi không công nhận quan hệ vợ chồng

        Theo quy định tại các Điều 14, 15 và 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

        Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con vẫn được bảo đảm như trường hợp cha mẹ có hôn nhân hợp pháp. Đối với tài sản, Tòa án ưu tiên sự thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em.

        Trong quá trình kiểm sát giải quyết vụ án, kiểm sát viên cần chú trọng bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên yếu thế, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và người có công sức đóng góp vào việc tạo lập tài sản nhưng không đứng tên trên giấy tờ sở hữu.

        Như vậy, việc giải quyết tranh chấp liên quan đến hôn nhân thực tế đòi hỏi kiểm sát viên khi nghiên cứu hồ sơ vụ án phải đánh giá toàn diện các yếu tố lịch sử, pháp lý và thực tiễn của quan hệ chung sống. Việc xác định đúng thời điểm xác lập quan hệ, điều kiện kết hôn, bản chất của việc chung sống và tình trạng hôn nhân của các bên có ý nghĩa quyết định trong việc kiểm sát hoạt động xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Qua thực tiễn công tác kiểm sát cho thấy, việc nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, thu thập đầy đủ chứng cứ và đánh giá khách quan các tình tiết của vụ việc là điều kiện quan trọng để hạn chế việc giải quyết chưa thống nhất, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình trong giai đoạn hiện nay.

        5. Kết luận

        Thực tiễn giải quyết các tranh chấp liên quan đến hôn nhân thực tế cho thấy đây là loại việc có tính chất phức tạp, thường gắn liền với nhiều quan hệ pháp luật khác như tranh chấp về thừa kế, chia tài sản, xác định cha mẹ cho con, quyền sử dụng đất hoặc nghĩa vụ tài sản giữa các bên. Quá trình giải quyết đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá toàn diện các yếu tố lịch sử, phong tục tập quán, điều kiện kết hôn theo từng thời kỳ cũng như hệ thống chứng cứ chứng minh việc chung sống như vợ chồng.

        Trong bối cảnh đó, vai trò của kiểm sát viên trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án, vụ việc liên quan đến hôn nhân thực tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Kiểm sát viên không chỉ thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng mà còn có trách nhiệm nghiên cứu đầy đủ hồ sơ vụ án, yêu cầu thu thập chứng cứ khi cần thiết, phát hiện và kiến nghị khắc phục những vi phạm trong hoạt động tố tụng, bảo đảm việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật.

        Thông qua hoạt động kiểm sát, kiểm sát viên góp phần bảo đảm áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em và các chủ thể yếu thế trong quan hệ gia đình. Đồng thời, việc nâng cao chất lượng công tác kiểm sát đối với loại án này còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn trật tự pháp luật, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, một vợ một chồng, bình đẳng và bền vững theo tinh thần của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

        Trong thời gian tới, cùng với sự phát triển của đời sống xã hội và sự đa dạng của các quan hệ hôn nhân, gia đình, yêu cầu đặt ra đối với kiểm sát viên là phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, kỹ năng đánh giá chứng cứ và khả năng vận dụng linh hoạt các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn xét xử để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.

Trần Thị Luyến - Phòng 9

In
24 Đánh giá bài viết này:
Không có đánh giá
Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để đăng bình luận.
Tin mới nhất
Tin đọc nhiều