Trong thời gian qua, công tác giải quyết, xét xử các vụ án dân sự trên địa bàn thành phố Hà Nội đã có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao, đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số vụ án dân sự bị cấp phúc thẩm hủy, nguyên nhân chủ yếu do sai sót trong việc xác định tư cách đương sự, thu thập, đánh giá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật chưa chính xác.
Nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xét xử, bảo đảm việc giải quyết các vụ án dân sự được toàn diện, khách quan và đúng pháp luật, bài viết sau đây đi vào phân tích cụ thể nội dung đối với vụ án dân sự bị cấp phúc thẩm hủy án và những vấn đề cần rút kinh nghiệm, nhằm giúp cán bộ, công chức, Kiểm sát viên và Thẩm phán có thêm bài học thực tiễn trong quá trình thực thi nhiệm vụ, hạn chế thấp nhất tình trạng án bị hủy, sửa trong thời gian tới.
Nội dung vụ án:
Về huyết thồng: Cố Lương Văn Vẽ (chết năm 1991) và vợ là cố Lê Thị Tý (chết năm 1988) sinh được 2 người con là Lương Xuân Vũ (SN 1936, hy sinh năm 1972); Lương Thị Tỵ (SN 1938, chết năm 2022).
Cụ Lương Xuân Vũ lấy cụ Chu Thị Tế, SN 1937 (hiện còn sống), sinh được 5 người con: Lương Ngọc Văn (SN 1958), Lương Ngọc Vui (SN 1961), Lương Ngọc A (SN 1963), Lương Ngọc B (SN 1966) và Lương Ngọc Hiền (SN 1967).
Về di sản tranh chấp: Thửa đất số 152, tờ bản đồ số 14, diện tích là 2.516m2 có nguồn gốc là của cố Lương Văn Vẽ. Năm 1990, ông Lương Ngọc B cùng vợ là Ngô Thị Sinh đến ở. Tháng 10/2001, ông B làm đơn xin cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất này. Đến 2/5/2002 UBND huyện B cấp GCNQSDĐ số S 161751 đối với thửa đất số 153 tờ bản đồ số 14 diện tích 2.516m2 (đất ở: 300m2; đất vườn 2.216m2) cho hộ ông Lương Ngọc B. Theo kết quả đo đạc thực tế thì thửa đất có diện tích là 2.588,1m2.
Theo nguyên đơn - ông Lương Ngọc A: Ông không nhớ cụ thể cố Vẽ và cố Tý có tài sản chung bao nhiêu mét vuông đất nhưng cố Vẽ đã cho ông Văn 800m2 đất, cho ông Vui khoảng 540m2 đất và cho bà Hiền khoảng 370m2 đất.
Còn lại diện tích đất 2.516m2 thửa số 153, tờ bản đồ số 14 tại xóm 3, thôn T, xã T, huyện B, cố Vẽ đã cho ông và ông Lương Ngọc B mỗi người 1/2 diện tích. Việc cố Vẽ cho ông A và ông B từ năm 1983 nhưng cố Vẽ chỉ nói bằng miệng, không làm văn bản, không xây tường chia ranh giới mà chỉ chỉ vị trí từ điểm này đến điểm kia.
Năm 1983, ông đi công nhân quốc phòng sau đó chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh sống, toàn bộ diện tích đất 2.516m2 do ông B quản lý, sử dụng.
Ngày 02/5/2002, ông B được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S161751 đối với thửa đất số 153, tờ bản đồ số 14, diện tích 2.516m2, trong đó đất ở: 300m2; đất vườn 2.216m2. Khi ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ Tế và anh em ông không biết gì.
Nay ông A đề nghị Tòa án nhân dân huyện B buộc ông Lương Ngọc B phải trả lại cho ông 1/2 diện tích đất nêu trên. Ngoài ra ông A không còn yêu cầu nào khác.
Theo bị đơn Lương Ngọc B: Năm 1990, ông sang ở với cố Vẽ vì cố đã già, yếu, lại ở đồi gò, đi lại, sinh hoạt khó khăn. Tháng 6/1991, cố Vẽ có nói “B, ông cho đất ở thì giữ lấy mà ở” được vài hôm thì cố Vẽ ốm, cuối năm 1991 thì cố Vẽ chết. Sau khi cố Vẽ chết, năm 2001 ông làm nhà, cùng năm UBND xã T thông báo làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông lên đăng ký làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên. Tháng 5/2022 thì ông nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa 153, tờ bản đồ số 14. Năm 2015, ông cùng vợ vay mượn để san đất vườn được như bây giờ. Từ khi cố Vẽ chết cho đến nay, đã 32 năm anh em ông không có mâu thuẫn hay tranh chấp gì đối với đất mà cố Vẽ để lại cho ông. Ông cũng đã chấp hành đầy đủ theo quy định về luật đất đai do Nhà nước ban hành, đóng nộp thuế theo quy định của Nhà nước. Nay ông Lương Ngọc A khởi kiện yêu cầu ông phải trả lại 1/2 diện tích đất mà gia đình ông đang sử dụng là vô căn cứ. Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông Lương Ngọc A.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Thị Sinh (vợ ông B), Lương Ngọc Chiến (con ông B), Lương Ngọc Quang (con ông B) và Lương Thị Như Phượng (con ông B) đều nhất trí với lời trình bày của bị đơn ông Lương Ngọc B, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Lương Ngọc A.
Tài liệu xác minh, thu thập:
- Xác minh tại UBND xã T, huyện B cung cấp thông tin: Thửa đất số 152, tờ bản đồ số 14, diện tích là 2516m2 có nguồn gốc là thửa đất của cố Lương Văn Vẽ (cố đã mất năm 1990 hoặc 1991). Năm 1990, ông Lương Ngọc B (là cháu nội) cùng vợ là Ngô Thị Sinh đến ở. Tháng 10/2001, ông B làm đơn xin cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất này. Đến 2/5/2002, hộ ông Lương Ngọc B được UBND huyện cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 153 tờ bản đồ số 14 diện tích 2516m2 (đất ở: 300m2; đất vườn 2.216m2), việc cấp giấy này được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
- Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của TAND huyện B thì tại thửa đất số 153, tờ bản đồ số 14: diện tích đất theo sổ tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 161751 là 2516m2; Diện tích đất sau khi đo đạc hiện trạng là 2.588,1m2.
Quá trình giải quyết:
Bản án dân sự sơ thẩm của TAND huyện B quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Ngọc A.
2. Thửa đất số 153, tờ bản đồ số 14, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 161751 là 2516m2; Diện tích đo đạc hiện trạng là 2588m2 tại thôn T, xã T, huyện B, thành phố H. Được chia như sau:
- Chia cho ông Lương Ngọc A được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất S1 = 469,9m2; trong đó 100m2 đất ở, 369,9m2 đất vườn. Từ các điểm 1;18;17;2; 1, trên đất có 69,43m2 tường bao (Có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho ông Lương Ngọc B được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất S2 = 2.118,2m2, trong đó 200m2 đất ở; 1918,2m2 đất vườn. Từ các điểm 2; 17;16;15;14;13;12;11;10;9;8;7;6;5;4;3; 2 (Có sơ đồ kèm theo). Và tài sản trên đất được chia.
Buộc ông Lương Ngọc B, bà Trần Thị Sinh, anh Lương Ngọc Chiến, Lương Ngọc Quang và chị Lương Thị Như Phượng phải di dời toàn bộ cây cối trên diện tích đất S1 để trả lại mặt bằng đất cho ông Lương Ngọc A.
+ Phần đất được chia các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
+ Ông Lương Ngọc A phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Lương Ngọc B, bà Trần Thị Sinh, anh Lương Ngọc Chiến, Lương Ngọc Quang và chị Lương Thị Như Phượng 69,43m2 tường bao tương đương với số tiền là 9.692.000 đồng (Chín triệu, sáu trăm chín mươi hai ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
3. Về án phí:
- Ông Lương Ngọc A phải chịu 40.256.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm với phần giá trị tài sản không được hưởng. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí mà ông Lương Ngọc Văn đã nộp hộ ông A tại Chi cục Thi hành án huyện B ngày 05/7/2023, theo biên lai số AA/2020/0061093 là 12.500.000 đồng. Nay ông A phải nộp tiếp số tiền 27.756.000 đồng (Hai mươi bảy triệu, bảy trăm lăm mươi sáu nghìn đồng).
- Ông Lương Ngọc B, phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với phần tài sản mà Tòa án chấp nhận chia cho ông A là 24.675.000 đồng (Hai mươi bốn triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, nguyên đơn Lương Ngọc A làm đơn kháng cáo đối với một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông, tuyên cho ông được 150m2 đất ở và 850m2 đất vườn, còn ông B được sử dụng 150m2 đất ở và 1438m2 đất vườn.
Lý do hủy án và những vấn đề cần rút kinh nghiệm:
1. Xác định thiếu người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án tham gia tố tụng:
Các đương sự tranh chấp quyền sử dụng đất có nguồn gốc của ông bà nội của nguyên đơn, bị đơn là cố Lương Văn Vẽ (chết năm 1991) và Lê Thị Tý (chết năm 1988) để lại. Cố Vẽ, cố Tý sinh 2 người con là: Lương Xuân Vũ (SN 1936, hy sinh năm 1972); Lương Thị Tỵ (SN 1938, chết năm 2022). Cụ Vũ lấy cụ Chu Thị Tế, SN 1937 (hiện còn sống), sinh được 5 người con: Lương Ngọc Văn, Lương Ngọc Vui, Lương Ngọc A, Lương Ngọc B và Lương Ngọc Hiền.
Cụ Lương Xuân Vũ hy sinh năm 1972 là chết trước bố mẹ. Khối tài sản các đương sự đang tranh chấp là tài sản chung của cố Vẽ, cố Tý. Cố Vẽ, cố Tý chết không có di chúc hoặc văn bản thể hiện ý chí của mình, chỉ có lời khai của cụ Tế, ông Văn, ông Vui, ông Hiền tại Biên bản hòa giải ngày 23/11/2022 tại UBND xã (BL 15-19) xác định cố Vẽ cho ông A, ông B mỗi người 1/2 diện tích đất của thửa số 153, tờ bản đồ số 14 tại xóm 3, thôn Tòng Lệnh 1, xã Tòng Bạt, huyện Ba Vì. Ông B không thừa nhận và cho rằng cố Vẽ cho một mình ông thửa đất tranh chấp. Nếu đúng có việc cố Vẽ định đoạt tài sản như lời khai của cụ Tế, ông Văn, ông Vui, ông Hiền thì cũng là định đoạt quá phần quyền của mình. Do thời điểm các đương sự khởi kiện thì cụ Lương Thị Tỵ đã chết. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Văn, ông Vui, ông Hiền và chồng, con của cụ Tỵ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, không yêu cầu họ trình bày quan điểm đối với phần di sản của cố Tý là thiếu sót, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của họ. Cấp phúc thẩm xác định đây là vi phạm tố tụng không thể khắc phục, buộc phải hủy án.
2. Xác minh, thu thập chứng cứ không đầy đủ:
Theo kết quả thẩm định, diện tích đất thực tế lớn hơn diện tích trong GCNQSDĐ 72,1 m². Tuy nhiên, TAND huyện B không làm rõ nguyên nhân của sự chênh lệch này, không xác định phần diện tích tăng thêm thuộc quyền sử dụng của ai, có liên quan đến hộ liền kề hay không. Việc Tòa án chia đất theo hiện trạng đo đạc thực tế, khi chưa xác minh rõ phần diện tích tăng thêm, là xác minh thu thập chứng cứ không đầy đủ.
3. Sai sót về tính án phí:
Ông Lương Ngọc A, sinh năm 1963, tại thời điểm xét xử sơ thẩm đã là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009.
Đồng thời, ông A và ông B đều là con của liệt sĩ Lương Xuân Vũ, thuộc diện thân nhân liệt sĩ được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 và khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không hướng dẫn đương sự làm đơn và nộp tài liệu chứng minh để được xem xét miễn án phí, dẫn đến thiệt thòi quyền lợi hợp pháp của công dân và sai sót trong phần quyết định của bản án.
Sau khi TAND huyện B xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã kịp thời kiểm sát bản án, phát hiện vi phạm và ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm, đề nghị hủy bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng về xác định đương sự, thu thập chứng cứ và tính án phí. Kháng nghị của Viện kiểm sát được TAND thành phố Hà Nội chấp nhận toàn bộ, thể hiện vai trò tích cực, chủ động của cơ quan kiểm sát trong việc bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong công tác xét xử dân sự.
Vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa ông Lương Ngọc A và ông Lương Ngọc B là một điển hình cho những thiếu sót trong việc xác định đương sự và thu thập chứng cứ chưa đầy đủ; là bài học thực tiễn sâu sắc đối với công tác giải quyết án dân sự, nhất là những vụ án liên quan đến quyền sử dụng đất có nguồn gốc thừa kế. Qua đó, mỗi cán bộ, Kiểm sát viên, Thẩm phán cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính thận trọng, khách quan và tuân thủ nghiêm quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm cho hoạt động tư pháp ngày càng dân chủ, nghiêm minh, đúng pháp luật, tránh để xảy ra tình trạng án bị hủy, sửa, gây ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng và niềm tin của nhân dân vào công lý./.
Trần Thị Ngoan, Nguyễn Thị Hà Phương - Phòng 9