Một số khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát Quyết định công nhận hòa giải thành tại Tòa án

28/07/2021 17:15 | 432 | 0

        Hòa giải, đối thoại đóng vai trò quan trọng khi giải quyết các tranh chấp, mẫu thuẫn phát sinh trong xã hội; góp phần bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội khi hòa giải thành, đối thoại thành thì vụ, việc được giải quyết dứt điểm và không phải mở phiên tòa xét xử. Từ đó, giúp tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của cơ quan Nhà nước và các bên liên quan tránh khiếu kiện kéo dài.

        Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án năm 2020 đã được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 16/6/2020, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 bao gồm 4 Chương, 42 Điều đã đưa ra một quy trình mới, một cách thức mới ngoài quy trình tố tụng theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 để các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp của mình.

        Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định:

        1. Sau khi lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại, Hòa giải viên chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trong trường hợp các bên có yêu cầu.

        Như vậy, sau khi các bên hòa giải thành, Hòa giải viên sẽ tiến hành ghi nhận kết quả bằng biên bản. Nếu các bên có yêu cầu, Hòa giải viên chuyển toàn bộ tài liệu cùng biên bản hòa giải thành đến Tòa án có thẩm quyền để ra Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành.

        Tuy nhiên, qua thực tiễn công tác kiểm sát Quyết định công nhận hòa giải thành tại Tòa án trên địa bàn Thành phố Hà Nội tác giả thấy có một số bất cập, khó khăn, vướng mắc. Thông qua vụ việc cụ thể như sau:

        Ngày 6/4/2021, anh Quách Văn T và chị Nguyễn Thị X cùng có đơn yêu cầu thuận tình ly hôn. Căn cứ biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành ngày 15/4/2021 các bên đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ yêu cầu thuận tình ly hôn cùng các tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án. Tòa án nhân dân quận C, thành phố H đã căn cứ Điều 32,33,34,35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 55,82,83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Quyết định:

        1. Công nhận nội dung hòa giải thành của các bên cụ thể như sau:

        1.1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa: Anh Quách Văn T và chị Nguyễn Thị X.

        1.2. Về con chung: Anh Quách Văn T và chị Nguyễn Thị X có 02 con chung là:

        Cháu Quách Thị Hoài L – sinh ngày 30/08/2001. Hiện nay cháu L đã trên 18 tuổi, anh chị không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

        Cháu Quách Thị Phương A – sinh ngày 21/03/2007. Khi ly hôn anh chị thỏa thuận cháu Phương A sẽ do anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị X cho đến khi có quyết định khác.

        Chị X được quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Anh T và những người thân trong gia đình anh T không ai được ngăn cản.

        1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Quách Văn T và chị Nguyễn Thị X xác định không có tài sản chung, nợ chung không có. Khi ly hôn anh T và Chị X không yêu cầu, nên Tòa án không giải quyết.

        2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về Thi hành án dân sự.

        3. Các bên, người đại diện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại Quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định nếu có căn cứ cho rằng nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên vi phạm một trong các điều kiện quy định tại Điều 33 của luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

        Sau khi nhận được Quyết định công nhận hòa giải thành tại Tòa án số 19/2021/QĐCNHGT-DS ngày 5/5/2021 của TAND quận C, thành phố H tác giả nhận thấy:

        - Thứ nhất: Về hình thức của Quyết định:

        Quyết định công nhận hòa giải thành tại Tòa án không có trong hệ thống biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 và biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2018/NQ-HĐTP ngày 09/08/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, khi kiểm sát Quyết định trên thì KSV căn cứ vào biểu mẫu nào để kiểm sát hình thức ban hành Quyết định.

        Ngoài ra, theo Quyết định số 399/QĐ-VKSTC ngày 06/9/2019 của Viện trưởng VKSNDTC ban hành về quy trình, kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự của Tòa án thì sau khi nhận được quyết định do Tòa án chuyển đến, cán bộ kiểm sát phải vào Sổ thụ lý kiểm sát quyết định. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy trước khi ra Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, Tòa án không tiến hành thụ lý vụ việc mà ban hành Quyết định ngay. Như vậy, nếu không thụ lý thì vụ việc nhưng lại có kết quả giải quyết. Vậy KSV kiểm sát quyết định trên sẽ tiến hành cập nhật trong cột, mục nào? Việc nhập sổ sách hay nhập phần mềm sẽ được tiến hành cập nhật ra sao? Điều này dẫn đến lúng túng và khó khăn trong báo cáo kết quả số liệu và trong công tác kiểm sát.

        - Thứ hai: Về nội dung của Quyết định:

        Theo quy định tại Điều 36 của Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị nếu có căn cứ cho rằng nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên vi phạm một trong các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật này.

        Điều 33. Điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án quy định như sau:

        Kết quả hòa giải thành, đối thoại thành được công nhận khi có đủ các điều kiện sau đây:

        1. Các bên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

        2. Các bên là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận, thống nhất;

        3. Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;

        4. Trường hợp các bên thuận tình ly hôn thì thỏa thuận của các bên phải có đầy đủ nội dung về việc ly hôn, việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, chồng, con theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;

        5. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải, thống nhất đối thoại của các bên liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người khác nhưng người đó không có mặt tại phiên hòa giải, đối thoại thì thỏa thuận, thống nhất chỉ được công nhận khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của họ;

        6. Trường hợp các bên thỏa thuận, thống nhất được một phần tranh chấp dân sự, một phần khiếu kiện hành chính thì chỉ được công nhận khi nội dung thỏa thuận, thống nhất không liên quan đến các phần khác của tranh chấp, khiếu kiện đó.

        Như vậy, theo quy định trên thì VKS chỉ có quyền kiến nghị nếu các bên vi phạm Điều 33 của Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án. Tuy nhiên, nếu phát hiện quyết định có nội dung gây khó khăn trong việc thi hành án cụ thể như trong quyết định trên TAND quận C quyết định: “cháu Phương A sẽ do anh Thanh trực tiếp nuôi dưỡng” vậy nuôi dưỡng đến thời điểm nào? hoặc “anh Thanh và những người thân trong gia đình anh Thanh không ai được ngăn cản” vậy những người thân là ai?... Với nội dung không phù hợp như trên thì VKS có được quyền kiến nghị hay không?

        - Thứ ba: Về Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án và việc thi hành quyết định công nhận kết quả hòa giải thành

        Khoản 2 Điều 35 Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án quy định: Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành sẽ được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

        Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 và theo quy định Điều 482 BLTTDS năm 2015 thì không có quyết định Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án. Nói cách khác, phạm vi điều chỉnh của Luật Thi hành án dân sự là những bản án, quyết định dân sự được ban hành theo thủ tục tố tụng dân sự quy định tại BLTTDS. Việc quy định một Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành được ban hành đặc thù theo Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án nhưng lại có hiệu lực bắt buộc thi hành như một quyết định được ban hành theo thủ tục tố tụng dân sự.

        Với những khó khăn, vướng mắc nêu trên, để áp dụng pháp luật thống nhất, đảm bảo cho hoạt động tư pháp được kiểm sát một cách chặt chẽ, chính xác thiết nghĩ cần phải có văn bản giải thích, hướng dẫn chi tiết vấn đề này để tránh gặp khó khăn, lúng túng trong công tác kiểm sát Quyết định nói trên.

Lê Thị Hồng Hạnh - Phòng 9

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 8

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 937758