Những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện một số tội xâm phạm an toàn giao thông

18/05/2021 09:11 | 318 | 0

        Đối với các vụ án xâm phạm an toàn giao thông như:  Điều 260 “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Điều 267 “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt”; Điều 272 “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đưởng thủy” và Điều 277 “Tội vi phạm quy định về điều khiển tàu bay”..., qua nghiên cứu và thực tế áp dụng khi giải quyết vụ án thì hậu quả của các vụ án này là: Làm người chết; Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác, gây thiệt hại về tài sản… Vậy, các tình tiết này có được coi là tình tiết định khung hình phạt  để xác định có phạm tội hay không?

        Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, đối với các tội xâm phạm an toàn giao không quy định cụ thể về hậu quả mà chỉ nêu gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gậy thiệt hại nghiêm trong cho sức khỏe, tài sản của người khác và quy định tình tiết là “Gây hậu quả rất nghiêm trọng” và “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” làm tiết tiết định khung hình phạt. Năm 2003, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị Quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự trong đó có hướng dẫn về tình tiết: “Gây hậu quả nghiêm trọng”, “Gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “ Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại Điều 202 BLHS (mục 4 phần I). Bộ luật hình sự năm 2015 với các tội xâm phạm an toàn giao thông đã đưa các tình tiết về số người chết, số người bị thương, tỷ lệ thương tích và trị giá thiệt hại tài sản vào Điều luật. Tuy nhiên, tình tiết làm chết người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp khác để làm tình tiết định khung chưa được quy định trong Điều luật như hướng dẫn tại Nghị Quyết số 02/2003/NQ-HĐTP:

        4.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây là “gây hậu quả rất nghiêm trọng” và phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự.

        ..........

        b. Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b,c,d.đ và e tiểu mục 4.1 mục 4 này;

        4.3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây là “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” và phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 202 Bộ luật hình sự.

        ..........

        b. Làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b,c,d.đ và e tiểu mục 4.1 mục 4 này;

        c. Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c,d.đ và e tiểu mục 4.2 mục 4 này;

        Từ việc Bộ luật hình sự năm 2015 không đưa các tình tiết trên vào Điều luật nên trong quá trình làm việc, tác giả nhận thấy có sự bất cập thông qua 01 vụ việc cụ thể như sau:

        Ngày 03/5/2020, Nguyễn Đình T điều khiển xe ô tô chở khách từ trung tâm Hà Nội về nhà. Khi đi đến Km 11+50 đường tỉnh lộ 421B, T điều khiển xe ô tô lấn sang đường của phương tiện ngược chiều để vượt xe ô tô khác. Trong khi vượt, do không làm chủ tốc độ, không quan sát tình trạng các phương tiện tham gia giao thông nên T đã để xe ô tô của mình đâm, va với xe mô tô do Nguyễn Văn B điều khiển đi ngược chiều, trên xe chở Bùi văn H. Hậu quả: Bùi Văn H tử vong tại chỗ, Nguyễn văn B bị thương tích 65%, 02 phương tiện bị hư hỏng nặng. 

        Quan điểm thứ nhất: Theo quy định tại Nghị Quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hậu quả của vụ án trên thuộc trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng” và Nguyễn Đình T phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 202 BLHS năm 1999. Tuy nhiên theo quy định của Điều 260 BLHS năm 2015 thì hành vi nêu trên của Nguyễn Đình T đã phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, thuộc trường hợp làm chết người và gây tổn hại sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều 260 BLHS.

        Quan điểm thứ hai:  Do không đưa các tình tiết nêu trên vào Điều luật, nên có sự bất cập giữa các điểm trong Điều luật, cụ thể: Hậu quả của vụ án nêu trên là một người chết và một người bị thương tích 65% sẽ có tính chất, mức độ, hậu quả cao hơn so với hậu quả trường hợp 02 người bị thương tích mà tổng tỷ lệ thương tật của 02 người từ 122% đến dưới 200%. Nhưng đường lối xử lý lại ngược lại là trong trường hợp hâu quả gây 01 người chết và 01 người bị thương 61% trở lên chỉ bị truy tố theo điểm a và b khoản 1 Điều 260 BLHS với mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm. Còn trường hợp 02 người bị thương tích mà tổng tỷ lệ thương tật của 02 người từ 122% đến dưới 200% thì bị truy tố theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 260 BLHS với mức hình phạt từ 03 năm đến 10 năm.

        Cũng tương tự như phân tích trên thì các trường hợp: làm chết 02 người và gây thương tích cho 01 người trên 61% chỉ bị truy tố theo điểm đ khoản 2 Điều 260 BLHS với mức hình phạt từ 03 năm đến 10 năm. Còn trường hợp gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương từ 201% trở lên lại bị truy tố theo điểm b khoản 3 Điều 260 BLHS với mức khung hình phạt từ 07 năm đến 10 năm.

        Điều 267, 272 và 277 BLHS cũng quy định tương tự như Điều 260 BLHS và sẽ có bất cập tương tự.

        Để khắc phục vướng mắc, bất cập nêu trên, đề nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn về trường hợp các vụ án xâm phạm về an toàn giao thông gây hậu quả làm chết người và còn gây hậu quả khác như gây thương tích cho người khác, làm thiệt hại trị giá tài sản làm tình tiết định khung như đã hướng dẫn tại Nghị Quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

        Mong có sự trao đổi của các đồng nghiệp.                                          

Phan Đức - Viện KSND huyện Quốc Oai

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 14

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 937765