Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại - Một số khó khăn và giải pháp khắc phục

26/03/2020 14:38 | 819 | 0

        Khi có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự (VAHS) để mọi tội phạm đều bị phát hiện và xử lý kịp thời. Tuy nhiên, trong thực tế, không ít những trường hợp tội phạm xảy ra đã gây thiệt hại cho bị hại không chỉ về lợi ích vật chất mà cả về tinh thần. Khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại là trường hợp đặc biệt mà do tính chất của vụ án và vì lợi ích của bị hại, cơ quan có thẩm quyền không tự ý quyết định việc khởi tố mà việc khởi tố VAHS được thực hiện theo yêu cầu của bị hại.

        Theo quy định tại Khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015, chỉ được khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại đối về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS. Mặc dù so với BLTTHS năm 2003, quy định của pháp luật đã có nhiều thay đổi, nhưng trong thực tiễn áp dụng các quy định về khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại phát sinh một số khó khăn, vướng mắc nhưng chưa có văn bản hướng dẫn để các cơ quan có thẩm quyền áp dụng thống nhất. Cụ thể:

        * Bị hại không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án

        Thực tiễn giải quyết các VAHS cho thấy, các vụ án về tội Cố ý gây thương tích” luôn chiếm tỷ lệ cao trong các tội chỉ được khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại. Đối với việc điều tra các vụ án cố ý gây thương tích thì yêu cầu bắt buộc đối với CQĐT là phải xác định được tỷ lệ thương tích của nạn nhân, bởi chỉ khi xác định được phần trăm tỉ lệ thương tích của nạn nhân thì CQĐT mới căn cứ vào đó để khởi tố VAHS hay không khởi tố VAHS. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, cơ quan có thẩm quyền không thể xử lý được vì bị hại không hợp tác hoặc từ chối đi giám định thương tích để xác định tỷ lệ thương tích và không yêu cầu khởi tố, gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, có thể bỏ lọt tội phạm, người phạm tội.

        Tại điểm b khoản 2 Điều 127 BLTTHS năm 2015 quy định về biện pháp dẫn giải có thể áp dụng đối với: “Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan”;

        Đây là một biện pháp cưỡng chế hoàn toàn mới nhằm khắc phục những trường hợp mà người bị hại từ chối việc giám định gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ việc hình sự cũng như hạn chế tình trạng bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quy định này cũng có những khó khăn, bất cập nhất định như: cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định trưng cầu giám định và thực hiện việc dẫn giải người bị hại đi giám định nhưng người bị hại vẫn cương quyết từ chối việc giám định, thậm chí tỏ thái độ bất hợp tác với các cơ quan tố tụng với lý do có quyền bất khả xâm phạm về thân thể; do đó, việc giám định không thể tiến hành được, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án.

        Thiết nghĩ, các cơ quan Trung ương cần thiết phải quy định rõ hơn về nghĩa vụ của bị hại trong việc giám định thương tích; trình tự, thủ tục, điều kiện để dẫn giải bị hại đi giám định thương tích nhằm khắc phục vướng mắc, bất cập trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm thời gian qua. Ngoài ra, đối với công tác giám định tỷ lệ thương tật thì cần phải được thực hiện ngay sau khi xảy ra vụ án để đảm bảo kết quả giám định được chính xác, kịp thời; ngăn ngừa việc thỏa thuận, thậm chí là mua chuộc, đe dọa giữa đối tượng gây án với bị hại khiến bị hại từ chối giám định tỷ lệ thương tật dẫn đến khó xử lý.

        * Khó khăn trong giới hạn giải quyết vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại

        Thứ nhất, trường hợp vụ án có nhiều người bị thiệt hại nhưng chỉ một hoặc một số người yêu cầu khởi tố vụ án, những người còn lại không yêu cầu khởi tố vụ án do nhiều nguyên nhân khác nhau đã phát sinh vướng mắc trong việc xác định số người không yêu cầu khởi tố vụ án có được coi là bị hại không, nếu không thì tư cách tham gia tố tụng là gì; trường hợp như vậy có khởi tố vụ án hình sự hay không. Nếu cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định khởi tố vụ án thì sẽ không bảo vệ được quyền và lợi ích của người bị hại có yêu cầu khởi tố, nếu ra quyết định khởi tố vụ án thì lại ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người không có yêu cầu khởi tố.

        - Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong trường hợp này thì không được khởi tố vụ án hình sự vì không đảm bảo được đầy đủ tất cả yêu cầu của các bị hại về việc khởi tố vụ án, do đó không thể khởi tố vụ án.

        - Quan điểm thứ hai cho rằng, trong trường hợp này chỉ cần có yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại thì cơ quan có thẩm quyền phải khởi tố vụ án.

        Theo quan điểm của tác giả, trường hợp này cơ quan có thẩm quyền vẫn phải khởi tố vụ án hình sự để điều tra và giải quyết toàn diện các vấn đề trong vụ án như quyền và lợi ích của bị hại, xác định đầy đủ trách nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội, phải đặt lợi ích của mọi bị hại bên cạnh lợi ích của từng bị hại cũng như lợi ích chung của xã hội (giữ gìn kỉ cương, trật tự xã hội và phòng ngừa tội phạm) trong việc xử lý hành vi phạm tội. Ngoài ra, đây là vấn đề quan trọng liên quan đến việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng đối với người bị buộc tội. Nếu coi tất cả những người bị thiệt hại đều là bị hại thì hành vi phạm tội sẽ rơi vào tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội đối với nhiều người” như trong quy định tội Cố ý gây thương tích. Ngược lại, nếu cho rằng chỉ người yêu cầu mới là bị hại, những người còn lại không phải bị hại thì người phạm tội sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với hành vi gây ra cho những người không yêu cầu. Trách nhiệm hình sự trong hai trường hợp này là khác nhau, vì vậy cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn, quy định rõ ràng hơn để áp dụng đúng pháp luật khi giải quyết vụ án.

        Thứ hai, trường hợp vụ án có nhiều người cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị hại chỉ yêu cầu khởi tố vụ án đối với hành vi của một hoặc một số bị can, vậy trường hợp này cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án, có khởi tố tất cả bị can hay không? Có quan điểm cho rằng cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án và khởi tố đối với tất cả các bị can là sai vì đã không tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự; do vậy cần trả hồ sơ để điều tra bổ sung và chỉ giải quyết đối với bị can bị yêu cầu khởi tố.

        Có thể ví dụ như sau: A, B, C cùng gây thương tích cho D, theo giám định tỷ lệ thương tích thì tổng tỷ lệ thương tích của D là 26%, trong đó A gây thương tích cho D tỷ lệ 15%, B gây thương tích cho D tỷ lệ 6%, C gây thương tích cho D tỷ lệ 5%. Quá trình xác minh, do A tích cực bồi thường cho D nên D không yêu cầu khởi tố đối với A, còn lại vẫn yêu cầu khởi tố đối với B và C. Như vậy, theo quan điểm này thì A sẽ không bị xử lý, sẽ bị đình chỉ vụ án đối với A; còn B, C bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và chịu hình phạt. Dưới góc độ bảo đảm quyền lợi cho bị hại, pháp luật đã được thực thi nhưng nếu xử lý như vậy thì căn cứ quyết định hình phạt đã bị vi phạm vì A tham gia thực hiện hành vi phạm tội có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn, hậu quả lớn hơn thì lại không bị xử lý; B và C tham gia thực hiện hành vi với tính nguy hiểm thấp hơn, gây hậu quả nhỏ hơn thì bị xử lý, như vậy rõ ràng dẫn đến sự không công bằng, công minh của pháp luật, giảm hiệu lực trừng trị, răn đe và giáo dục của hình phạt.

        Theo tác giả, trường hợp này cơ quan có thẩm quyền sẽ khởi tố vụ án và khởi tố tất cả các bị can, bởi vì theo quy định của BLTTHS thì ngay tại điều luật đã quy định là “khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại”, bị hại chỉ có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự còn việc khởi tố bị can không thuộc về quyền của bị hại mà thuộc về nhà nước mà cụ thể là cơ quan có thẩm quyền. Khi đã khởi tố thì vụ án phải được giải quyết công bằng và nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Tất cả các bị can, bị cáo đều phải bị xem xét trách nhiệm pháp lý, đối với việc bị hại không yêu cầu khởi tố đối với bị can, bị cáo nào sẽ là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo đó.

        Ngoài ra, tương tự trong vụ án đồng phạm có nhiều bị can, bị cáo, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị hại chỉ rút yêu cầu một hoặc một số bị can thì trường hợp này các cơ quan có thẩm quyền vẫn sẽ tiếp tục giải quyết đối với tất cả các bị can, bị cáo. Đồng thời sẽ giải thích cho bị hại biết về quy định của BLTTHS nêu rõ bị hại chỉ có quyền yêu cầu “khởi tố vụ án hình sự” chứ không có quyền yêu cầu “khởi tố bị can” nên đồng nghĩa với việc bị hại có quyền “rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự” chứ không thể “rút yêu cầu khởi tố bị can”. Cũng giống như trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo nhưng bị hại chỉ yêu cầu khởi tố vụ án đối với hành vi của một hoặc một số bị can, bị cáo; việc bị hại rút yêu cầu cũng có thể sẽ được cơ quan có thẩm quyền cân nhắc, xem xét như là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 BLHS.

        * Khó khăn trong trường hợp có hay không thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự

        Trong vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, quá trình xác minh, thu thập chứng cứ, cơ quan điều tra trưng cầu giám định tỷ lệ thương tật của bị hại là 28%, thuộc khoản 1 điều 134 BLHS, bị hại có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo khoản 1 điều 134 BLHS. Sau đó bị hại hoặc bị can yêu cầu giám định lại thì tỷ lệ thương tật của bị hại là 31% dẫn đến hành vi phạm tội của bị can phạm vào khoản 2 điều 134 BLHS. Căn cứ theo khoản 3 điều 8 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS thì trường hợp này cơ quan điều tra không phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên nếu không thay đổi quyết định KTVA hình sự thì khi bị hại rút yêu cầu khởi tố sẽ giải quyết như thế nào bởi lẽ căn cứ vào quyết định KTVA thì trong quyết định KTVA đã phải ghi rõ điều, khoản của BLHS (Khoản 1 điều 154 BLTTHS) là theo khoản 1 điều 134 BLHS thì vụ án phải đình chỉ, nhưng thực tế bị can phạm vào khoản 2, không thuộc trường hợp được rút yêu cầu khởi tố. Ngược lại, quá trình xác minh tỷ lệ thương tật của bị hại là 31% nên vụ án được khởi tố theo khoản 2 điều 134 BLHS, sau đó trưng cầu giám định lại thì tỷ lệ thương tật cỉa bị hại là 28% lại thuộc khoản 1 điều 134 BLHS, như vậy căn cứ theo  khoản 3 điều 8 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP thì cơ quan có thẩm quyền cũng không thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự do hành vi phạm tội vào khoản khác với khoản đã khởi tố trong cùng một điều luật, vậy nếu bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố thì giải quyết trong trường hợp này như thế nào trong khi căn cứ vào quyết định KTVA (khoản 2 điều 134 BLHS) thì vụ án không thuộc trường hợp được rút yêu cầu khởi tố, nhưng thực tế bị can phạm vào khoản 1 và thuộc trường hợp phải đình chỉ vụ án. Do đó, đối với trường hợp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử có sự thay đổi về khung hình phạt trong cùng một điều luật nếu việc thay đổi dẫn đến tội thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì cần quy định rõ hơn cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự để tháo gỡ vướng mắc.

        Vậy, trong thời gian tới, các cơ quan trung ương cần phải cập nhật những khó khăn xảy ra trong thực tiễn để ra văn bản hướng dẫn nhằm tháo gỡ những vướng mắc trên; từ đó giúp cơ quan có thẩm quyền nhận thức đúng, thống nhất các quy định về khởi tố theo yêu cầu của bị hại nhằm giảm bớt thời gian, chi phí tố tụng, tránh làm cho bị hại phải gánh chịu thêm những thiệt hại về tinh thần, uy tín, danh dự do việc khởi tố vụ án gây ra mà vẫn đạt được mục đích cuối cùng của pháp luật hình sự là giáo dục người phạm tội.

       Trên đây là quan điểm của tác giả,rất mong nhận được ý kiến đóng góp để nâng cao nhận thức.Ban biên tập

Thanh Tùng - Viện KSND quận Thanh Xuân

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 47

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 842305