Bàn về việc định tội danh: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay Cưỡng đoạt tài sản

22/11/2019 14:19 | 182 | 0

        Những năm gần đây, việc sử dụng mạng xã hội trở nên phổ biến, thu hút một lượng lớn người tham gia. Trong quá trình tạo lập, cài đặt tài khoản sử dụng mạng xã hội, nhiều người vô tình công khai thông tin cá nhân như số điện thoại, nơi ở, nghề nghiệp…tạo sơ hở cho các đối tượng nắm bắt những thông tin đó nhằm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Trong số những thủ đoạn phạm tội hình thành thời gian gần đây, nổi lên một thủ đoạn như sau:

        Với mục đích chiếm đoạt tài sản, các đối tượng phạm tội lên các trang mạng xã hội facebook vào các hội nhóm để tìm thông tin cá nhân và số điện thoại của các cô gái trẻ, sau đó gọi điện thoại đến giả danh là Điều tra viên thuộc Cơ quan Công an, đang điều tra vụ án mại dâm và nói rằng các cô gái có liên quan đến hoạt động này, yêu cầu phải gửi máy tính xách tay, điện thoại di động để kiểm tra hoặc nói có quan hệ bất chính trước hôn nhân nên phải nộp tiền phạt, hướng dẫn họ chuyển tài sản hoặc tiền tới địa chỉ theo yêu cầu, nếu không sẽ bị gửi giấy triệu tập, thông báo về gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương. Các cô gái do lo sợ bị đuổi học, bị ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm nên đồng ý gửi tài sản theo yêu cầu.

        Vụ án cụ thể: Nguyễn Xuân H (SN: 1991), Tăng Viết C (SN: 1995) và Hoàng Văn Q (SN: 1999) quen biết nhau và bàn bạc sẽ dùng thủ đoạn giả danh Công an gọi điện cho các cô gái trẻ nói có liên quan đến hoạt động mại dâm, yêu cầu gửi tài sản nếu không sẽ gửi giấy triệu tập về gia đình, nhà trường. Thông tin các cô gái được Q lên mạng xã hội facebook để thu thập (tên tuổi, điện thoại, quê quán, đặc điểm). Khoảng 10h30 phút ngày 15/3/2019, H gọi điện cho chị L (bằng sim rác) giả danh làm công an thành phố Hà Nội đang điều tra vụ án mại dâm, có hình ảnh và video ghi lại chị L vào nhà nghỉ. Chị L nhớ ra năm 2018 mình có vào nhà nghỉ nhưng không liên quan đến hoạt động mại dâm, H nói muốn chứng minh thì phải mang điện thoại và máy tính xách tay cho H để kiểm tra, nếu không sẽ gửi giấy triệu tập về gia đình và nhà trường. Do tin tưởng và lo sợ ảnh hưởng đến học tập nên chị L đồng ý. Khoảng 12h30’ ngày 15/3/2019, chị L đã gửi 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Sony Vaio (trị giá 3.500.000 đồng) và 01 điện thoại di động Iphone 6S 64gb (trị giá 3.000.000 đồng) qua tuyến xe khách Hà Nội - Bắc Giang cho H. Đến khoảng 16h00’ cùng ngày, H thông báo đã kiểm tra xong, hẹn sáng hôm sau sẽ gửi lại tài sản cho chị L. Đến sáng hôm sau, chị L không liên lạc được với H nên đã đến Công an trình báo. (Thực tế, C đã ra bến xe khách lấy tài sản mang về đưa H, H đưa Q bán lấy tiền chia nhau)

        Khoảng 12h30 phút ngày 26/3/2019, Nguyễn Xuân H gọi điện cho chị T (sinh năm 1999) xưng tên là Minh - Công an thành phố Hà Nội, nói hiện đang nắm giữ video, hình ảnh chị T vào nhà nghỉ, nghi là gái bán dâm nên sẽ gửi giấy triệu tập về nhà để gọi lên làm việc. H đe dọa nếu không phối hợp là đang chống người thi hành công vụ. H yêu cầu chị T mang điện thoại ra bến xe Mỹ Đình để H kiểm tra. Khoảng 20’ sau, chị T mang điện thoại ra bến xe Mỹ Đình thì H gọi báo đang bận công tác tại Bắc Giang, yêu cầu chị T gửi điện thoại và 850.000 đồng tiền nộp phạt về hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân theo xe khách đến Bắc Giang (địa chỉ do H cung cấp). Chị T do tin tưởng và lo sợ nên đã gửi 01 điện thoại iphone 6 32gb (trị giá 1.800.000 đồng) và 850.000 đồng theo xe khách cho H. Đến 16h40’ ngày 27/3/2019, chị T có mặt ở bến xe Mỹ Đình chờ lấy lại điện thoại theo lời hẹn của H nhưng không được, biết là bị lừa nên đã đến Công an trình báo.

        Quá trình giải quyết vụ án trên, có hai quan điểm như sau:

        - Quan điểm thứ nhất: Hành vi trên phạm vào tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 170 Bộ luật hình sự 2015, bởi lẽ có sự uy hiếp đến tinh thần của người khác để chiếm đoạt tài sản, việc các đối tượng chiếm đoạt được tài sản là dựa vào sự sợ hãi của người bị hại. Việc gian dối chỉ là điều kiện để thực hiện hành vi uy hiếp tinh thần. Do đó, hành vi khách quan ở đây là uy hiếp về tinh thần của người chủ sở hữu tài sản, đe dọa gây thiệt hại về mặt danh dự, uy tín. Mặc dù thủ đoạn này chưa đến mức làm cho người bị hại tê liệt ý chí và sự phản kháng (họ vẫn có sự lựa chọn) nhưng vì lo sợ và không muốn bị ảnh hưởng đến đời tư nên họ đành chấp nhận trao tài sản một cách miễn cưỡng.

        - Quan điểm thứ hai: Hành vi trên phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015. Tác giả đồng tình với quan điểm này. Thủ đoạn gian dối trong tình huống này được thể hiện một cách rõ nét, và là khởi nguồn của vụ việc, nếu người phạm tội không liên tiếp đưa ra thông tin gian dối để thực hiện hành vi đe dọa nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, khiến người bị hại tin tưởng thì sẽ không đồng ý giao tài sản. Do đó, thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi khách quan nổi bật của vụ án này và là đặc trưng của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hơn nữa, nếu là tội cưỡng đoạt tài sản thì tội phạm hoàn thành từ khi đối tượng có hành vi đe dọa nhằm chiếm đoạt tài sản, chưa cần chiếm đoạt được tài sản, nhưng trong vụ án này, các cô gái chỉ nghe thông tin và lời nói đe dọa qua điện thoại, có khoảng thời gian suy nghĩ sau đó mới mang tài sản ra gửi cho đối tượng, tội phạm hoàn thành khi các đối tượng nhận được tài sản chứ chưa thể hoàn thành từ khi các đối tượng đe dọa người bị hại qua điện thoại.

        Hai quan điểm đều có những lập luận riêng mang tính thuyết phục. Người áp dụng pháp luật có thể nhầm lẫn về khách thể và mặt khách quan.

        (1) Khách thể của tội phạm: Vụ án xâm phạm quan hệ sở hữu, mặc dù người bị hại sợ hãi, lo lắng nhưng trạng thái tâm lý này không phải xuất phát từ những thông tin có thật mà là những thông tin gian dối được đối tượng đưa ra, người bị hại cả tin không bình tĩnh để suy xét đã dẫn đến nóng vội trong hành động, tin tưởng gửi tài sản cho đối tượng mà không nhận ra mình đang bị “lừa dối”, người bị hại không bị thiệt hại về tinh thần mà chỉ thiệt hại về tài sản.

        (2) Mặt khách quan của tội phạm: mặc dù đối tượng có dùng lời lẽ đe dọa để tác động đến tinh thần người bị hại nhưng đây không phải là hành vi uy hiếp tinh thần công khai, trắng trợn, trực tiếp với người bị hại mà sự đe dọa này dựa trên thông tin gian dối được truyền đạt qua điện thoại, đối tượng và người bị hại không gặp nhau, không ở cùng một không gian, do đó sự tác động đến tâm lý người bị hại không mãnh liệt, không thể nhận định đây là hành vi uy hiếp tinh thần hay khủng bố về tinh thần được, người bị hại cũng không trực tiếp gặp đối tượng, không trực tiếp đưa tài sản cho đối tượng mà đồng ý gửi tài sản qua xe khách do tin tưởng lời nói của đối tượng. Thủ đoạn gian dối là hành vi khách quan nổi bật của vụ án, chi phối và có quan hệ nhân quả đến toàn bộ các diễn biến tiếp theo, nhờ có thủ đoạn gian dối mới thực hiện được hành vi đe dọa. Thông tin đối tượng đưa ra mặc dù là thông tin không chính xác nhưng lại đánh trúng tâm lý của các cô gái trẻ, trong một vài trường hợp trùng với đời tư của họ (như có vào nhà nghỉ quan hệ với bạn trai) do đó họ dễ tin tưởng nên chấp nhận giao gửi tài sản cho đối tượng. Khi người bị hại giao tài sản, trong ý thức của họ là để phục vụ cho công tác điều tra chứ không nghĩ là sẽ bị mất tài sản do họ vẫn có niềm tin về những thông tin gian dối của đối tượng. Sau khi không nhận lại được tài sản mới biết mình bị lừa và đi trình báo. Tội phạm hoàn thành khi đối tượng chiếm đoạt được tài sản.

        Vì vậy, quan điểm phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở vụ án được nêu trong bài là có cơ sở. Tuy nhiên đây chỉ là quan điểm cá nhân của tác giả, khi tiến hành giải quyết án, việc cần làm của người tiến hành tố tụng là nghiên cứu và làm sáng tỏ nội dung vụ án, cân nhắc kỹ từng tình tiết, bám sát các yếu tố cấu thành tội phạm để định tội danh chính xác. Tác giả mong nhận được sự góp ý, thảo luận của các bạn đồng nghiệp./.

 Phạm Thu Hương - VKSND quận Nam Từ Liêm

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 85

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 768938