Vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật đối với tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ” quy định tại Điều 305 Bộ luật hình sự 2015.

04/11/2019 08:48 | 113 | 0

       Ngày 27/11/2018, tại thành phố Hà Nội, Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ Công an đã tổ chức Hội nghị tăng cường công tác phòng ngừa đấu tranh với tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về vũ khí, vật liệu nổ, Công cụ hỗ trợ. Tại Hội nghị các đại biểu đã tích cực tham luận về những khó khăn trong việc phòng ngừa, đấu tranh đối với tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật về vật liệu nổ. Đồng thời nêu lên những vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về xử phạt hành chính, về xử lý hình sự đối với loại tội phạm này. Tác giả xin phân tích, đánh giá để làm rõ hơn quy định của pháp luật và nêu lên những vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật đối với tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ” quy định tại Điều 305 Bộ luật hình sự 2015.

       Điều 305 của Bộ luật hình sự 2015 quy định gồm 06 (sáu) loại tội cụ thể là:

       - Tội “Chế tạo trái phép vật liệu nổ”;

       - Tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”;

       - Tội “Vận chuyển trái phép vật liệu nổ”;

       - Tội “Sử dụng trái phép vật liệu nổ”;

       - Tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”

       - Tội  “Chiếm đoạt vật liệu nổ”.

        Theo quy định của khoản 7, Điều 3 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2018 thì, vật liệu nổ là sản phẩm dưới tác động của xung kích thích ban đầu gây ra phản ứng hóa học nhanh, mạnh, tỏa nhiệt, sinh khí, phát sáng tạo ra tiếng nổ. Vật liệu nổ bao gồm thuốc nổ và phụ kiện nổ. Thuốc nổ là hóa chất hoặc hỗn hợp chất được sản xuất, sử dụng nhằm tạo ra phản ứng nổ dưới tác động của xung kích thích; Phụ kiện nổ là kíp nổ, dây nổ, dây cháy chậm, mồi nổ, vật phẩm chứa thuốc nổ có tác dụng xung kích thích ban đầu làm nổ khối thuốc nổ hoặc thiết bị chuyên dùng có chứa thuốc nổ.

       Như vậy, đối tượng tác động của Điều 305 Bộ luật hình sự 2015 là thuốc nổ và phụ kiện nổ; trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng về vật liệu nổ của Nhà nước; đồng thời xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác.

       Sau gần 02 năm Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 được thực hiện, quá trình áp dụng Điều 305 đã có nhiều vướng mắc, tạo nên nhiều cách hiểu khác nhau, cụ thể:

       - Về thuốc nổ: Khoản 1 của Điều 305, quy định: Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Trong khi đó điểm b, khoản 2 quy định: Thuốc nổ các loại từ 10 kilôgam đến dưới 30 kilôgam. Theo như quy định điểm b, khoản 2, thì người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt thuốc nổ với khối lượng dưới 10 kilôgam thì phạm tội theo quy định tại khoản 1 của điều luật này. Vấn đề đặt ra người phạm tội với khối lượng thuốc nổ dưới 01 (một) kilôgam thì có được coi là phạm tội hay không? Trong khi đó, Thông tư liên tịch số 01/LN ngày 07 tháng 01 năm 1995 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao thì tại điểm a, khoản 1, điểm III, phần B quy định “Thuốc nổ các loại từ 1kg đến 15kg” thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 96 Bộ luật hình sự 1999 là chất nổ, chất cháy, chất độc hoặc chất phóng xạ. Hiện nay, Thông tư này vẫn còn phù hợp về mặt lý luận và thực tiễn, quy định về đối tượng điều chỉnh của Điều 305 Bộ luật hình sự năm 2015; Mặt khác đến nay chưa có văn bản nào phủ quyết tính hiệu lực của Thông tư liên tịch số 01/LN ngày 07 tháng 01 năm 1995. Có quan điểm cho rằng hành vi tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt thuốc nổ dưới 10 kg là phạm tội theo khoản 1 Điều 305 BLHS. Có quan điểm cho rằng hành tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt thuốc nổ từ 01 kg trở lên đến dưới 10 kg thì mới phạm tội theo khoản 1 Điều 305 BLHS. Do vậy, cần phải có hướng dẫn cụ thể xử lý về hành vi vi phạm đối với người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt thuốc nổ dưới 01 kilôgam.

       - Về phụ kiện nổ: Theo quy định tại khoản 1 Điều 305 của Bộ luật hình sự 2015 thì người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt phụ kiện nổ là phạm tội; khoản 1 của điều này không quy định khối lượng bao nhiêu là phạm tội. Các khung tăng nặng cũng không quy định cụ thể về khối lượng; tại điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 và điểm b khoản 4 của Điều 305 quy định: các loại phụ kiện nổ có khối lượng lớn, khối lượng rất lớn, khối lượng đặc biệt lớn. Các quy định này chưa có tính định lượng cụ thể, chưa được luật hóa; trong khi đó xu hướng xây dựng pháp luật của Nhà nước ta là theo tinh thần luật hóa, hạn chế việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành áp dụng luật. Việc áp dụng để xử lý đối với người chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt phụ kiện nổ gặp rất nhiều khó khăn, nhiều cách hiểu khác nhau, chưa thống nhất.

       Theo quan điểm của tác giả thì trong thời điểm các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự chưa có văn bản hướng thì có thể vận dụng các quy định xử lý phụ kiện nổ có thể vận dụng các quy định tại Thông tư liên tịch số 01/LN ngày 07 tháng 01 năm 1995 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao:

        + Thuốc pháo dưới 03kg; thuốc phóng dưới 01kg; dây cháy chậm, dây nổ dưới 500m; kíp mìn, nụ xùy dưới 200 cái thì không xử lý hình sự.

        + Vật phạm pháp có số lượng lớn: thuốc pháo từ 30 kilôgam đến 150 kilôgam; thuốc phóng từ 10 kilôgam đến 50 kilôgam; dây cháy chậm, dây nổ từ trên 3.000m đến 15.000m; kíp mìn, nụ xùy từ 1.000 cái đến 10.000 cái.

        + Người nào chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ với số lượng trên mức tối đa hướng dẫn thì phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

        Thông tư liên tịch số 01/LN ngày 07 tháng 01 năm 1995 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao thì có thể áp dụng được hành vi phạm tội thuộc khoản 1 của Điều 305 Bộ luật hình sự 2015 và trong trường hợp có khối lượng lớn và khối lượng đặc biệt lớn. nhưng chưa có hướng dẫn để áp dụng đối với trường hợp có khối lượng rất lớn quy định tại điểm b khoản 3 Điều 305 Bộ luật hình sự 2015.

        Từ thực tiễn vướng mắc nêu trên, đề nghị Liên ngành Bộ Công an – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao kiến nghị  Ủy ban Tư pháp Quốc Hội hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao khẩn trương có văn bản hướng dẫn giải quyết đối với tội “Chế tạo, Tàng trữ, Vận chuyển, Sử dụng, Mua bán trái phép hoặc Chiếm đoạt vật liệu nổ” quy định tại Điều 305 Bộ luật hình sự 2015, theo hướng quy định cụ thể:

        - Khoản 1 của Điều 305, quy định rõ khối lượng thuốc nổ là từ bao nhiêu đến dưới 10 kilôgam; phụ kiện nổ là bao nhiêu (thuốc phóng là bao nhiêu kilôgam; dây cháy chậm là bao nhiêu mét; kíp mìn, nụ xùy là bao nhiêu cái…);

       - Khoản 2 Điều 305, quy định rõ: các loại phụ kiện nổ có số lượng lớn là bao nhiêu? (thuốc phóng là bao nhiêu kilôgam; dây cháy chậm là bao nhiêu mét; kíp mìn, nụ xùy là bao nhiêu cái…);

       - Khoản 3 Điều 305, quy định: các loại phụ kiện nổ có số lượng rất lớn là bao nhiêu? (thuốc phóng là bao nhiêu kilôgam; dây cháy chậm là bao nhiêu mét; kíp mìn, nụ xùy là bao nhiêu cái…);

       - Khoản 4 Điều 305, quy định rõ: các loại phụ kiện nổ có số lượng đặc biệt lớn là bao nhiêu? (thuốc phóng là bao nhiêu kilôgam; dây cháy chậm là bao nhiêu mét; kíp mìn, nụ xùy là bao nhiêu cái…);

        Trên đây là một số vướng mắc và quan điểm giải quyết trong việc áp dụng đối với tội "Chế tạo, Tàng trữ, Vận chuyển, Sử dụng, Mua bán trái phép hoặc Chiếm đoạt vật liệu nổ". Tác giả xin trao đổi và rất mong được sự bổ sung, góp ý của các bạn đọc và đồng nghiệp.  

                                                    

                                                                                                                               Đỗ Minh Tuấn

                                                                                                                        PTP1 - Viện KSND thành phố Hà Nội

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 131

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 762231