Thủ tục hủy phán quyết trọng tài thương mại tại Tòa án nhân dân

15/07/2019 11:03 | 408 | 0

        Hiện nay có 2 cơ quan giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các cá nhân, pháp nhân, tổ chức có hoạt động thương mại là Tòa án nhân dân (TAND) và Trọng tài thương mại. Các bên tham gia tố tụng đều có quyền yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp theo BLTTDS, hoặc nếu có thỏa thuận có thể yêu cầu Trọng tài thương mại giải quyết theo quy định của Luật Trọng tài thương mại (TTTM).

        Trường hợp các đương sự có tranh chấp thương mại, có thỏa thuận giải quyết thông qua TTTM và đã có phán quyết giải quyết vụ việc của trọng tài, nếu một bên không đồng ý với phán quyết có quyền nộp đơn khởi kiện đến TAND cấp tỉnh đề nghị hủy Phán quyết trọng tài trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết.

        Bài viết này sẽ giới thiệu các quy định về trình thự, thủ tục của tòa án khi có yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thương mại.

        1. Cơ sở để hủy phán quyết trọng tài

        Về chủ thể có quyền yêu cầu nộp đơn hủy phán quyết trọng tài thương mại: là cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam hoặc nước ngoài tham gia tố tụng trọng tài với tư cách nguyên đơn, bị đơn.

        Theo khoản 2 Điều 68 Luật TTTM, Điều 14 Nghị quyết số 01 ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn: Tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài trong 5 trường hợp sau:

        - Thứ nhất: Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

        + Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật TTTM: Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài; Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Vì vậy trường hợp một bên nộp đơn đề nghị TTTM giải quyết tranh chấp mà không có thỏa thuận trọng tài thì việc trọng tài thụ lý và giải quyết đơn là vi phạm và phán quyết trọng tài trong trường hợp này sẽ bị hủy.

        + Theo quy định tại Điều 16 Luật TTTM quy định về hình thức thỏa thuận trọng tài thì Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng nhưng phải bằng văn bản. Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản: Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật; thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên; Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên; Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác; Hoặc qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.

        + Trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu xảy ra nếu người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền; không có năng lực hành vi dân sự hoặc quá trình thực hiện một bên đơn phương chấm dứt thỏa thuận trọng tài; Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài; Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

        Thứ hai: Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật TTTM là trường hợp các bên có thỏa thuận về thành phần Hội đồng trọng tài, quy tắc tố tụng trọng tài nhưng Hội đồng trọng tài thực hiện không đúng thỏa thuận của các bên hoặc Hội đồng trọng tài thực hiện không đúng quy định Luật TTTM về nội dung này mà Tòa án xét thấy đó là những vi phạm nghiêm trọng và cần phải hủy nếu Hội đồng trọng tài không thể khắc phục được hoặc không khắc phục theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật TTTM.

        Thứ ba: Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ. Là trường hợp Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 Luật TTTM; hoặc Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp mà không được các bên thỏa thuận yêu cầu Trọng tài giải quyết hoặc giải quyết vượt quá phạm vi của thỏa thuận đưa ra Trọng tài giải quyết. VD tranh chấp có liên quan đến đất đai trên lãnh thổ Việt Nam sẽ do TAND Việt Nam giải quyết.

        Về nguyên tắc, Tòa án chỉ hủy phần quyết định có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài mà không hủy phán quyết trọng tài. Trường hợp có thể tách được phần quyết định của Hội đồng trọng tài về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài, thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết không bị huỷ. Trường hợp không thể tách được phần quyết định của Hội đồng trọng tài về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài, thì Tòa án hủy phán quyết trọng tài đó.

        Thứ tư: Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;

        Thứ năm: Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam. Khi xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án phải xác định được phán quyết trọng tài có vi phạm một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật và nguyên tắc đó có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của Trọng tài. Tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài sau khi đã chỉ ra được rằng phán quyết trọng tài có nội dung trái với một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam mà Hội đồng trọng tài đã không thực hiện nguyên tắc này khi ban hành phán quyết trọng tài và phán quyết trọng tài xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên, người thứ ba.

        2. Thủ tục yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

        - Bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài nộp đơn yêu cầu trong thời hạn 30 ngày từ ngày nhận được phán quyết trọng tài. Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính quy định tại Điều 70 Luật TTTM, phải nêu căn cứ hủy phán quyết trọng tài, kèm theo theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có căn cứ và hợp pháp (trường hợp không chứng minh được Tòa án sẽ không thụ lý).

        Khi Tòa án xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đối với 4 trường hợp đầu tiên của khoản 2 Điều 68 Luật TTTM, bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài có nghĩa vụ chứng minh lý do hủy, Tòa án sẽ không thu thập chứng cứ mà chỉ xem xét thủ tục tố tụng do Hội đồng trọng tài giải quyết, không giải quyết lại nội dung đương sự tranh chấp (kể cả khi việc giải quyết nội dung tranh chấp của HĐ trọng tài không đúng quy định pháp luật).

        Riêng yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với lý do phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì bên yêu cầu không bắt buộc cung cấp chứng cứ chứng minh. Trường hợp này Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài.

       Điểm đ khoản 2 Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật TTTM quy định: “…Tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài sau khi đã chỉ ra được rằng phán quyết trọng tài có nội dung trái với một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam mà Hội đồng trọng tài đã không thực hiện nguyên tắc này khi ban hành phán quyết trọng tài và phán quyết trọng tài xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên, người thứ ba…”

        Như vậy, nếu có căn cứ, Tòa án chỉ hủy toàn bộ phán quyết trọng tài khi toàn bộ phán quyết vi phạm điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật TTTM. Nếu phán quyết có nhiều phần, nhưng chỉ có một phần của phán quyết vi phạm điểm đ khoản 2 Điều 68 (phần này độc lập với những phần phán quyết khác), các phần khác của phán quyết không vi phạm thì không được hủy toàn bộ phán quyết mà chỉ hủy phần phán quyết vi phạm. Quá trình giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trong tài, Tòa án cần căn cứ quy định khoản 7 Điều 71 Luật TTTM, tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót trong tố tụng, nhằm loại bỏ căn cứ hủy phán quyết.

        - Thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động của TTTM Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về TTTM Việt Nam. Điều 71 Luật TTTM quy định trình tự, thủ tục Toà án xét đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài.

        + Sau khi thụ lý đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài, Toà án có thẩm quyền thông báo ngay cho Trung tâm trọng tài hoặc các Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc, các bên tranh chấp và Viện kiểm sát cùng cấp.

        + Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý, Chánh án Toà án chỉ định một Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được chỉ định, Hội đồng xét đơn yêu cầu phải phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài. Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn 07 ngày làm việc trước ngày mở phiên họp để tham dự phiên họp của Tòa án xét đơn yêu cầu.

        + Phiên họp được tiến hành với sự có mặt của các bên tranh chấp, luật sư của các bên, nếu có, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp một trong các bên yêu cầu Hội đồng xét đơn vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc rời phiên họp mà không được Hội đồng chấp thuận thì Hội đồng vẫn tiến hành xét đơn yêu cầu hủy quyết định trọng tài.

        + Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vào các quy định tại Điều 68 và các tài liệu kèm theo để xem xét, quyết định; không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết. Sau khi xem xét đơn và các tài liệu kèm theo, nghe ý kiến của những người được triệu tập (nếu có), Kiểm sát viên trình bày ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số.

        - Hội đồng xét đơn yêu cầu có quyền ra quyết định huỷ hoặc không huỷ phán quyết trọng tài.

        + Trong trường hợp bên yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài rút đơn hoặc đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc rời phiên họp mà không được Hội đồng chấp thuận thì Hội đồng ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.

        - Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, Tòa án gửi quyết định cho các bên, Trung tâm trọng tài hoặc Trọng tài viên Trọng tài vụ việc và Viện kiểm sát cùng cấp.

        - Trường hợp theo yêu cầu của một bên và xét thấy phù hợp, Hội đồng xét đơn yêu cầu có thể tạm đình chỉ việc xem xét giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong thời hạn không quá 60 ngày để tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng trọng tài theo quan điểm của Hội đồng trọng tài nhằm loại bỏ căn cứ hủy bỏ phán quyết trọng tài. Hội đồng trọng tài phải thông báo cho Tòa án biết về việc khắc phục sai sót tố tụng. Trường hợp Hội đồng trọng tài không tiến hành khắc phục sai sót tố tụng thì Hội đồng tiếp tục xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

       Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 15 Nghị quyết 01/2014 của HĐTP TAND Tối cao trường hợp: nếu xét thấy phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM và Hội đồng trọng tài không khắc phục hoặc không thể khắc phục được theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật TTTM, thì Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vào điểm tương ứng tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM để ra quyết định huỷ phán quyết trọng tài. Nếu xét thấy phán quyết trọng tài không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật TTTM, thì Hội đồng xét đơn yêu cầu ra quyết định không huỷ phán quyết trọng tài.

        3. Hậu quả pháp lý của việc hủy phán quyết trọng tài

        Quyết định của Toà án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành (trong mọi trường hợp, thời gian giải quyết tranh chấp tại Trọng tài, thời gian tiến hành thủ tục hủy phán quyết trọng tài tại Tòa án không tính vào thời hiệu khởi kiện)

        - Trường hợp Hội đồng xét đơn yêu cầu không hủy phán quyết trọng tài thì phán quyết trọng tài được thi hành, các bên có nghĩa vụ phải thực hiện trong thời hạn nhất định.

        - Trường hợp Hội đồng xét đơn yêu cầu ra quyết định hủy phán quyết trọng tài, các bên có thể thỏa thuận lại để đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại Trọng tài hoặc một bên có quyền khởi kiện tại Tòa án.

Huyền Phương - Phòng 10

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 54

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 757573