Một số nội dung cần chú ý khi thực hiện quy trình kiểm sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp

18/03/2019 17:13 | 558 | 0

       Ngày 03/12/2018, Viện trưởng Viện KSND tối cao đã ký, ban hành Quyết định số 546/QĐ-VKSTC Quy định về quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại, đã có hiệu lực pháp luật và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp (gọi tắt là Quy trình Kiểm sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo). Để thuận lợi cho cán bộ làm công tác kiểm sát, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, trong khi thực hiện Quy trình này, chúng tôi khái quát những nội dung cơ bản cần chú ý trong quá trình kiểm sát.

       Quy trình kiểm sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo là văn bản thực chất hướng dẫn một số quy định trong Quy chế Tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp (Ban hành kèm theo Quyết định số 51/QĐ-VKSTC-V12 ngày 02 tháng 02 năm 2016 của Viện trưởng Viện KSND tối cao - gọi tắt là Quy chế 51). Quy trình này quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, kỹ năng cơ bản trong quá trình kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; kiểm tra các quyết định khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

       Quy trình kiểm sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo bao gồm 5 chương với 33 điều. Cụ thể:

       - Chương 1: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 4);

       - Chương 2: Gồm các điều luật quy định về Quy trình giải quyết khiếu nại và kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, chương được chia làm hai mục, mục 1 là Quy trình giải quyết khiếu nại (từ Điều 5 đến Điều 11), mục 2 là kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật (từ Điều 12 đến Điều 16);

       - Chương 3: Gồm các điều luật quy định về quy trình giải quyết tố cáo (từ Điều 17 đến Điều 24);

       - Chương 4: Quy định về quy trình kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp (từ Điều 25 đến Điều 31);

       - Chương 5: Tổ chức thực hiện (từ Điều 32 đến Điều 33).

       1. Phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

       Trong quy định này, phạm vi điều chỉnh chỉ giới hạn trong công tác kiểm sát và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Tuy vậy, cần chú ý các vấn đề sau:

       - Đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của VKS được quy định tại Điều 29 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác. Cụ thể, VKS có thẩm quyền giải quyết:

       + Khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm tra viên, Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng;

       + Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng, quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng CQĐT;

       + Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng, quyết định giải quyết khiếu nại của cấp trưởng được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

       + Tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra của người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra;

       + Khiếu nại, tố cáo trong quản lý giáo dục chấp hành án phạt tù.

       Như vậy thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của VKS trong hoạt động tư pháp là rất rộng.

       - Đối với công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp: Căn cứ khoản 1, 2  Điều 30 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 thì VKS có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp tại các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Theo quy định của pháp luật hiện hành, có cơ quan không phải là cơ quan tư pháp, có người không có chức danh tư pháp nhưng cũng có thẩm quyền giải quyết một số loại khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp như Chủ tịch UBND cấp xã, Trưởng Công an cấp huyện trong công tác thi hành án hình sự. Như vậy, đối tượng kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của VKS không chỉ gồm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp.

       - Đối với công tác kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Quy chế 51, VKS chỉ được kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật trong hoạt động tư pháp của VKS. Các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy định này và VKS không có thẩm quyền, nhiệm vụ kiểm tra.

       2. Về giải quyết khiếu nại

       Điều kiện thụ lý khiếu nại (Điều 5)

       Ngoài những điều kiện được nêu tại điều này như: hình thức đơn khiếu nại, thời hiệu khiếu nại, thẩm quyền giải quyết, chủ thể khiếu nại, hiệu lực của quyết định giải quyết khiếu nại,..v.v. thì cần lưu ý thêm: Đơn khiếu nại được thụ lý giải quyết phải là bản chính, có chữ ký của người khiếu nại; không thụ lý đơn có chữ ký photo. Nếu đơn khiếu nại có chữ ký photo mà thuộc thẩm quyền giải quyết và gửi trong thời hiệu thì yêu cầu người khiếu nại viết lại đơn và ký tên hoặc điểm chỉ.

       Trường hợp đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền nhưng gửi quá thời hiệu mà không có lý do chính đáng thì xử lý trả lại đơn, không thụ lý. Nếu sau khi trả lại đơn, người khiếu nại xuất trình các tài liệu chứng minh cho lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì VKS thụ lý. Thời hạn giải quyết tính từ khi đơn khiếu nại đủ điều kiện thụ lý.

       Trường hợp đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền và được gửi trong thời hiệu khiếu nại nhưng chưa đủ điều kiện thụ lý thì hướng dẫn người khiếu nại bổ sung thông tin, tài liệu, thời hạn yêu cầu người khiếu nại bổ sung thông tin, tài liệu không tính vào thời hiệu khiếu nại 

       - Yêu cầu giải trình và cung cấp hồ sơ, thông tin, tài liệu , chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại. (Điều 6)

       Việc giải trình về quyết định, hành vi bị khiếu nại là nghĩa vụ của người bị khiếu nại. Do vậy, trong tất cả mọi trường hợp giải quyết khiếu nại, VKS có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải yêu cầu người bị khiếu nại có văn bản giải trình và cung cấp hồ sơ tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại. Thực tế, việc yêu cầu người bị khiếu nại có văn bản giải trình chưa được cơ quan giải quyết khiếu nại chú ý.

       Đối với trường hợp khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của CQĐT, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ giải quyết khiếu nại, VKS chỉ yêu cầu CQĐT cung cấp những tài liệu mà VKS chưa có.

       Xác minh nội dung khiếu nại (Điều 8)

       + Việc thông báo quyết định phân công xác minh nội dung khiếu nại: Người được phân công xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh thực hiện việc công bố quyết định phân công xác minh nội dung khiếu nại tại cơ quan, đơn vị của người bị khiếu nại hoặc tại trụ sở cơ quan, đơn vị nơi phát sinh khiếu nại. Đồng thời cần kết hợp yêu cầu người bị khiếu nại chuẩn bị văn bản giải trình và hồ sơ, tài liệu liên quan để cung cấp cho VKS, tránh tình trạng đến cơ quan, đơn vị của người bị khiếu nại chỉ công bố quyết định phân công xác minh nội dung khiếu nại, sau đó mới có công văn yêu cầu người bị khiếu nại giải trình.

       + Làm việc với người khiếu nại: Trong trường hợp cần phải làm việc với người khiếu nại, VKS có thể gửi giấy mời người khiếu nại trực tiếp làm việc hoặc có văn bản yêu cầu người khiếu nại cung cấp, bổ sung tài liệu nhằm làm rõ nội dung khiếu nại.

       Trường hợp có giấy mời đến lần thứ 2 hoặc có văn bản yêu cầu lần thứ 2 nhưng người khiếu nại không đến hoặc không cung cấp, bổ sung tài liệu thì VKS tiến hành xác minh lý do. Giấy mời hoặc văn bản yêu cầu phải được lưu trong hồ sơ. Nếu vì lý do chủ quan, người khiếu nại cố tình không đến hoặc không hợp tác cung cấp tài liệu thì xác định đây như là trường hợp rút đơn khiếu nại, VKS đình chỉ việc giải quyết khiếu nại..

       + Việc tổ chức đối thoại: Hiện tại, chưa có quy định bắt buộc phải đối thoại khi giải quyết khiếu nại trong hoạt động tư pháp, vì vậy, tùy thực tế và từng trường hợp, VKS có thể tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại. Chỉ thị công tác số 01/CT-VKSTC ngày 28/12/2018 của Viện trưởng VKSTC đã yêu cầu các cấp VKS phải tăng cường công tác đối thoại nhằm giải quyết dứt điểm nhũng trường hợp khiếu nại bức xúc, kéo dài. Thực tế thấy rằng, nếu các cấp VKS tổ chức tốt việc đối thoại thì VKS có điều kiện giải thích để người khiếu nại hiểu rõ pháp luật, có thể quyết định rút đơn hoặc hạn chế khiếu nại tiếp.

       Ban hành quyết định giải quyết khiếu nại (Điều 10)

       Sau khi đã ban hành, Quyết định giải quyết khiếu nại phải được gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại và VKS cấp trên trực tiếp. Nếu gửi trực tiếp cho người khiếu nại, người bị khiếu nại thì phải được lập biên bản, nếu gửi qua đường bưu chính phải có giấy tờ bưu chính. Biên bản, giấy tờ bưu chính phải lưu hồ sơ giải quyết khiếu nại.

       3. Về kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật

       Kiểm tra điều kiện thụ lý (Điều 12)

       VKS phải kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đó đã có hiệu lực pháp luật chưa, để quyết định thụ lý kiểm tra. Quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật được hiểu như sau:

       Các quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (giải quyết lần 1) mà người khiếu nại không khiếu nại trong thời hạn quy định của pháp luật;

       Các quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (giải quyết lần 2) và theo quy định của pháp luật đã có hiệu lực pháp luật.

       Khi nhận được đơn đề nghị kiểm tra, VKS phải đối chiếu với các điều kiện được quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 14 Quy chế số 51 để quyết định việc thụ lý hay không thụ lý. Tuy nhiên, để xác định đơn có phải thuộc trường hợp là đơn bức xúc, kéo dài hay không, hiện nay chưa có tiêu chí quy định cụ thể. Do vậy, VKS phải quản lý, theo dõi chặt chẽ để đánh giá cho chính xác. Ví dụ trong thời gian ngắn, công dân liên tục gửi đơn, gửi đến nhiều nơi, v.v…thì có thể xác định là đơn bức xúc, kéo dài.

          - Trình tự, thủ tục tiến hành kiểm tra (Điều 14)

       Về phân công nhiệm vụ: Theo quy định tại Điều 14 Quy chế số 51, đơn vị kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp chủ trì việc kiểm tra, các đơn vị nghiệp vụ liên quan có trách nhiệm phối hợp trong việc đánh giá tài liệu chứng cứ, quyết định tố tụng, quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật có căn cứ hay không . Quan điểm của các đơn vị nghiệp vụ phải thể hiện bằng văn bản.

       Về thẩm quyền kiểm tra: Được quy định tại Điều 14 Quy chế số 51, theo đó VKS cấp trên kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại của cấp dưới, trừ trường hợp:

       + Đơn đề nghị kiểm tra lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật của VKS cấp tỉnh về hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự; thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố; hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự; kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính do Viện KSND tối cao kiểm tra.

       + Đơn đề nghị kiểm tra lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật của Viện KSND tối cao do Viện KSND tối cao kiểm tra.

       4. Về giải quyết tố cáo

       Kiểm tra điều kiện thụ lý, thông báo việc thụ lý tố cáo (Điều 17)

       Theo quy định của pháp luật, trong hoạt động tư pháp tố cáo chỉ có một cấp giải quyết. Tuy vậy, sau khi có Quyết định (kết luận giải quyết tố cáo có thể xảy ra các trường hợp:

       + Trường hợp người tố cáo không nhất trí với nội dung quyết định (kết luận) giải quyết mà có đơn tố cáo tiếp. Thẩm quyền giải quyết vẫn thuộc VKS đã ban hành quyết định (kết luận) giải quyết trước đó. Nếu đơn tố cáo tiếp có những tình tiết, nội dung mới chưa được xem xét giải quyết thì VKS tiếp tục thụ lý để xem xét đối với tình tiết, nội dung mới theo trình tự thủ tục giải quyết tố cáo. Nếu không có tình tiết, nội dung mới thì không thụ lý, nhưng có văn bản trả lời cho người tố cáo biết lý do không thụ lý.

       + Trường hợp người tố cáo không nhất trí với quyết định (kết luận) giải quyết tố cáo mà có đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người giải quyết tố cáo thì, chỉ thụ lý xem xét, giải quyết tố cáo đối với hành vi của người giải quyết tố cáo, không thụ lý giải quyết tố cáo đối với nội dung quyết định (kết luận) giải quyết tố cáo.

       + Trường hợp người tố cáo, người bị tố cáo không nhất trí với nội dung quyết định (kết luận) giải quyết tố cáo và có đơn khiếu nại quyết định (kết luận) giải quyết tố cáo thì không thụ lý xem xét vì quyết định (kết luận) giải quyết tố cáo không phải đối tượng của khiếu nại. Theo pháp luật hiện hành thì người tố cáo, người bị tố cáo không có quyền khiếu nại đối với quyết định (kết luận) giải quyết tố cáo.       

       - Xác minh nội dung tố cáo (Điều 20)

       Điều 20 khoản 8 quy định “Trong trường hợp tố cáo đã được thụ lý, người tố cáo rút tố cáo thì người giải quyết tố cáo tiến hành giải quyết tố cáo hoặc đình chỉ giải quyết tố cáo theo quy định của pháp luật về tố cáo”.

       Theo quy định Điều 34 Luật tố cáo năm 2018, người giải quyết tố cáo ra quyết định đình chỉ việc giải quyết tố cáo khi người tố cáo rút toàn bộ nội dung tố cáo, trừ trường hợp người tố cáo rút tố cáo mà người giải quyết tố cáo xét thấy hành vi bị tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ xác định việc rút tố cáo do bị đe dọa, mua chuộc hoặc người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vụ việc tố cáo vẫn phải được giải quyết. Như vậy, về cơ bản, khi người tố cáo rút tố cáo thì VKS ra quyết định đình chỉ việc giải quyết tố cáo.

       Trường hợp người tố cáo rút tố cáo nhưng có căn cứ xác định người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi tố cáo của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

       - Công khai kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự, quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật (Điều 23)

       Việc công khai kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật (nếu có) phải đảm bảo nguyên tắc không tiết lộ thông tin về người tố cáo và những nội dung thuộc bí mật nhà nước.

       Điều 4 Luật tố cáo năm 2018 về nguyên tắc giải quyết tố cáo tại khoản 2 quy định Việc giải quyết tố cáo phải bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo”.

       Theo đó trong suốt quá trình thụ lý giải quyết tố cáo phải đảm bảo giữ bí mật cho người tố cáo, trừ khi họ không yêu cầu, việc thụ lý, xác minh, kết luận phải đảm bảo nguyên tắc này.

       5. Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tư pháp

       - Kiểm tra điều kiện thụ lý kiểm sát (Điều 25)

       Khi tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, thông tin phản ánh về dấu hiệu vi phạm của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền kèm theo đơn khiếu nại, tố cáo, VKS có thẩm quyền kiểm sát phải kiểm tra, xác định dấu hiệu vi phạm của cơ quan có thẩm quyền để quyết định thụ lý kiểm sát. Đây là những căn cứ để áp dụng các biện pháp kiểm sát.

       Khi áp dụng các biện pháp yêu cầu cần lưu ý:

       Khi VKS nhận được đơn khiếu nại, cần đối chiếu ngày, tháng ghi trong đơn với ngày, tháng ban hành quyết định hoặc thực hiện hành vi bị khiếu nại để xác định thời hạn giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền có còn hay không. Nếu thời hạn giải quyết còn theo quy định của pháp luật thì chưa có cơ sở xác định dấu hiệu vi phạm. Trường hợp này, VKS chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết và theo dõi việc giải quyết đó.

       Ví dụ: Ngày 12/10/2018, VKS nhận được đơn của công dân ghi ngày 10/10/2018 có nội dung khiếu nại Quyết định không khởi tố vụ án ngày 09/10/2018 của Phó Thủ trưởng CQĐT. Đối chiếu quy định về thời hạn giải quyết là 07 ngày thì Cơ quan vẫn còn thời hạn giải quyết. VKS chuyển đơn đến Thủ trưởng CQĐT để giải quyết theo thẩm quyền.

       Quyết định áp dụng biện pháp kiểm sát (Điều 26)

       Hiện tại pháp luật cũng như quy định của Ngành không quy định khi nào áp dụng biện pháp yêu cầu và khi nào áp dụng biện pháp trực tiếp kiểm sát. Trước đây, theo Thông tư liên tịch số 02 ngày 10/8/2005 của Liên ngành tư pháp Trung ương thì, khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, việc áp dụng các biện pháp yêu cầu phải theo thứ tự lần lượt từ yêu cầu ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo đến yêu cầu kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu.

       Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp yêu cầu cũng cần chú ý đến thực tế giải quyết khiếu nại, tố cáo để áp dụng cho phù hợp. Khi dụng biện pháp kiểm sát cần chú ý vấn đề sau:

       Thứ nhất, phải căn cứ vào quy định của pháp luật để áp dụng biện pháp yêu cầu hay biện pháp trực tiếp kiểm sát. Pháp luật hiện hành quy định biện pháp trực tiếp kiểm sát chỉ áp dụng trong kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong Tố tụng hình sự và thi hành án hình sự; 03 biện pháp yêu cầu được áp dụng trong tất cả lĩnh vực tố tụng cũng như thi hành án. Do vậy, khi kiểm sát trực tiếp việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với TAND thì chỉ được kiểm sát trực tiếp trong TTHS. Trong quyết định trực tiếp kiểm sát phải ghi rõ là trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, không ghi chung là kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của TAND. Còn nếu áp dụng 03 biện pháp yêu cầu thì có thể kiểm sát tất cả trong các lĩnh vực tố tụng của TAND.

       Thứ hai, phải căn cứ vào dấu hiệu vi phạm trong giải quyết để quyết định. Sau khi VKS nhận được đơn khiếu nại còn thời hiệu hoặc đã hết thời hiệu khiếu nại, VKS chưa áp dụng biện pháp kiểm sát mà chuyển đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết, sau một thời gian nhất định, ít nhất bằng thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà VKS chưa nhận được kết quả giải quyết, như vậy đã có dấu hiệu vi phạm (thời hạn giải quyết) vì theo quy định của pháp luật thì quyết định giải quyết khiếu nại phải được gửi cho VKS. Do vậy, VKS cần áp dụng biện pháp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra văn bản giải quyết.

       Trường hợp VKS nhận được đơn khiếu nại, trong nội dung đơn khiếu nại nêu rõ việc cơ quan có thẩm quyền đã nhận đơn khiếu nại nhưng không giải quyết hoặc không ban hành quyết định giải quyết. Như vậy, đã có dấu hiệu vi phạm, trường hợp này VKS ban hành văn bản yêu cầu ra văn bản giải quyết.

       Nếu nhận được đơn khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại mà phát hiện có dấu hiệu vi phạm hoặc VKS nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo mà phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì VKS không ban hành văn bản yêu cầu ra văn bản giải quyết nữa, phải áp dụng biện pháp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kiểm tra hoặc yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu.

       Áp dụng biện pháp trực tiếp kiểm sát (Điều 30)

       Về việc tổ chức xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ  trong quá trình trực tiếp kiểm sát: Hầu hết các cuộc kiểm sát trực tiếp đều được các VKS áp dụng để kiểm sát trong một thời điểm nhất định. Trong quá trình kiểm sát, VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung giải quyết đối với từng việc khiếu nại, tố cáo cụ thể. Kiểm sát về thẩm quyền, trình tự thủ tục thì cơ bản hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo đã thể hiện rõ. Riêng kiểm sát về nội dung giải quyết có trường hợp hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa đầy đủ tài liệu chứng cứ để kết luận việc giải quyết có căn cứ hay không nên trước hết cần yêu cầu cơ quan được kiểm sát phải cung cấp đầy đủ, khi việc cung cấp vẫn chưa đầy đủ căn cứ để kết luận thì mới tiến hành xác minh.

       Trên thực tế, trước khi tiến hành kiểm sát, VKS chủ yếu mới phát hiện dấu hiệu vi phạm về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục, còn nội dung giải quyết chưa có hồ sơ nên khó phát hiện dấu hiệu vi phạm. Do vậy, trong quyết định kiểm sát thường ấn định thời gian tiến hành kiểm sát. Khi thời hạn kiểm sát đã hết nhưng cần thời gian để xác minh thì báo cáo Viện trưởng quyết định gia hạn thời hạn kiểm sát. Nếu thấy cần thiết có thể tách riêng việc khiếu nại, tố cáo để tiến hành kiểm sát theo vụ việc.

Nguyễn Mạnh Hà, Trần Thị Hoa - Phòng 12

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 10

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 732303