Một số nội dung chính cần lưu ý trong thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 19/10/2018

08/01/2019 06:33 | 732 | 0

       Ngày 19/10/2018, liên ngành Bộ Công an – Bộ quốc phòng - Viện KSND tối cao - Tòa án NDTC đã ban hành Thông tư liên tịch (TTLT) số 04 về Quy định về phối hợp trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS 2015. Thông tư liên tịch số 04/2018 có hiệu lực kể từ ngày 10/12/2018, thay thế thông tư liên tịch số 05/2005 ngày 07/9/2015. TTLT số 04/2018 có nhiều nội dung thay đổi so với TTLT số 05/2005, Kiểm sát viên cần nắm vững khi tiến hành giải quyết các vụ án hình sự là:

       1. Một số nội dung chính cần lưu ý trong thông tư liên tịch số 04/2018 ngày 19/10/2018

       1.1. Về việc khởi tố và kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự

       -  Rút ngắn thời hạn Viện kiểm sát (VKS) ban hành văn bản khi nhận được với Quyết định không khởi tố vụ án hình sự xuống còn 2 ngày (TTLT số 05/2005 là 3 ngày)

       - Bổ sung quy định VKS ra quyết định khởi tố vụ án hình sự khi VKS ban hành văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố, ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khi VKS yêu cầu khởi tố vụ án hình sự mà trong thời gian 3 ngày Cơ quan điều tra không thực hiện.

       - Tại Điều 11 TTLT số 05/2005 không quy định cụ thể hoạt động tố tụng về trường hợp đã bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với một người về một tội danh và trong quá trình điều tra phát hiện ra ngoài hành vi đã bị khởi tố người đó còn thực hiện một hoặc nhiều hành vi phạm tội có cùng tội danh đó. Điều này dẫn đến việc hiểu và thực hiện không thống nhất, có nơi ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với từng hành vi được phát hiện sau đó; có nơi không khởi tố bổ sung nhưng vẫn tiến hành điều tra và kết luận trong Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố đối với tất cả các hành vi cùng tội danh đó.

       Tại điểm a khoản 6 Điều 9 TTLT số 04/2018 đã quy định thống nhất “Nếu trong quá trình điều tra, truy tố phát hiện bị can còn thực hiện hành vi phạm tội có cùng tội danh mà chưa bị khởi tố thì ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự về hành vi phạm tội đó”. Đây là một điểm cần chú ý để không xảy ra vi phạm tố tụng “không khởi tố nhưng vẫn điều tra và truy tố” trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

       - BLTTHS năm 2003 và TTLT số 05/2005 không quy định biện pháp tố tụng của VKS khi thấy chưa đủ căn cứ để phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và không có căn cứ ra quyết định Hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra. Trước đây VKS thường ban hành công văn đề nghị Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu chứng cứ để làm rõ căn cứ khởi tố bị can, việc này đã bị các luật sư cho rằng VKS đã vi phạm về thời hạn ra quyết định khi nhận được đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra.

       Để khắc phục thiếu sót này, TTLT số 04/2018 tại khoản 2 Điều 10 đã quy định rõ về việc VKS ra văn bản yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu khi thấy chưa đủ căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị can.

       - Về việc giao nhận Quyết định khởi tố bị can, TTLT số 04/2018 bỏ quy định hồ sơ đề nghị VKS phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can khi chuyển VKS phải có “biên bản giao quyết định khởi tố bị can…” (điểm d Điều 13 TTLT số 05/2005). Việc giao này sẽ được thực hiện sau khi Cơ quan điều tra nhận được quyết định phê chuẩn của VKS (khoản 7 Điều 10 TTLT số 04/2018).

       1.2. Về cách tính thời hạn tố tụng trong trường hợp nhập vụ án hình sự, bị can phạm vào tội nặng hoặc nhẹ hơn, khởi tố, điều tra bổ sung về một tội phạm khác. Đây là thay đổi rất quan trọng mà Điều tra viên và Kiểm sát viên phải luôn nhớ để không xảy ra vi phạm tố tụng, xâm phạm đến quyền và lợi ích của bị can (thời hạn tạm giam), cụ thể:

       - Tại điểm 18.2 TTLT số 05/2015 quy định:

       “Trường hợp đang điều tra vụ án mà lại khởi tố điều tra bổ sung về một tội phạm khác thì việc điều tra đối với các hành vi phạm tội trong vụ án được thực hiện đồng thời và thời hạn điều tra được tính tiếp kể từ khi ra quyết định khởi tố đối với hành vi phạm tội sau cho đến khi kết thúc điều tra đối với tất cả các hành vi phạm tội theo qui định tại Điều 119 của BLTTHS.

       Thời hạn tạm giam bị can trong trường hợp này được áp dụng theo từng tội phạm. Nếu hết thời hạn tạm giam bị can (kể cả đã gia hạn) hoặc bị can không bị tạm giam về tội phạm khởi tố trước mà xét cần tạm giam để điều tra về tội phạm được khởi tố sau thì ra lệnh tạm giam bị can về tội phạm đó theo qui định tại Điều 120 của BLTTHS.”

       Quy định như trên dẫn đến một số Cơ quan điều tra mặc dù đã sớm phát hiện bị can còn thực hiện hành vi phạm tội khác nhưng để có nhiều thời gian điều tra đã dẫn đến việc chờ gần hết thời hạn điều tra thời hạn tạm giam mới ra quyết định khởi tố bổ sung về tội phạm khác để có thêm thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam theo tội danh mới.

       - Tại Điều 14 TTLT số 04/2018 quy định: khi nhập vụ án thì thời hạn được tính theo tội nặng nhất đã khởi tố và được tính từ ngày khởi tố vụ án đầu tiền; khi bổ sung quyết định khởi tố thì thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam tính theo tội nặng nhất và tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại Điều 172 BLTTHS, tổng thời hạn tạm giam theo quy định tại Điều 173 BLTTHS nhưng không vượt quá thời hạn điều tra. Khi thay đổi quyết định khởi tố sang tội nhẹ hơn thì thời hạn theo tội nhẹ hơn và trường hợp này cần đặc biệt lưu ý về thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn theo tội nhẹ hơn.

       Quy định như trên của TTLT số 04/2018 đảm bảo tính khoa học, phù hợp với quy định của BLTTHS và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị can, tránh hiện tượng kéo dài trong việc giải quyết vụ án hình sự.

       1.3. TTLT số 04/2018 hướng dẫn cụ thể việc thực hiện quy định về giữ người trong trường hợp khẩn cấp và thời hạn tạm giữ khi ra Quyết định tạm giữ. Trong đó đáng lưu ý là Cơ quan điều tra đang thụ lý hồ sơ vụ án có thể ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp cả khi người đó đang ở nơi khác. Trong trường hợp này Cơ quan điều tra đang thụ lý hồ sơ vụ án đề nghị Cơ quan điều tra khác hoặc cơ quan có thẩm quyền theo điểm b, điểm c khoản 2 Điều 110 BLTTHS phối hợp  giữ người trong trường hợp khẩn cấp (khoản 5 Điều 15 TTLT số 04/2018).

       1.4. TTLT số 04/2018 quy định việc chuyển hồ sơ đề nghị phê chuẩn lệnh tạm giam trong trường hợp người đang bị tạm giữ bị khởi tố bị can thời hạn chậm nhất 24 giờ trước khi hết thời hạn tạm giữ, nhiều hơn 12 giờ so với TTLT số 05/2005 (quy định chậm nhất 12 giờ).

       Về trường hợp VKS không phê chuẩn lệnh tạm giam, TTLT 04/2018 quy định rõ trường hợp VKS đã phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ thì VKS ra quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ. Quy định này khắc phục tình trạng có cách hiểu khác nhau và việc áp dụng BLTTHS được thống nhất và đúng quy định  (trước đây do chưa có quy định rõ ràng nên có nơi VKS ra quyết định hủy bỏ tạm giữ, có nơi Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ tạm giữ).

       Tại Điều 17 TTLT số 04/2018 quy định về thời hạn tạm giam khi thời hạn tạm giữ và thời hạn tạm giam không liên tục. Trong trường hợp này phải tính kể từ ngày bắt bị can để tạm giam cho đến ngày kết thúc được ghi trong lệnh (đã trừ đi số ngày bị tạm giữ). Quy định này đảm bảo thời hạn tạm giam đối với từng loại tội được tuân thủ đúng quy định tại Điều 173 BLTTHS.

       1.5. Ngoài ra trong TTLT số 04/2018 còn quy định trình tự thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, áp dụng biện pháp tố tụng đặc biệt, áp dụng thủ tục rút gọn, chuyển vụ án, nhập tách vụ án…

       2. Một số ý kiến về việc thực hiện TTLT số 04/2018 ngày 19/10/2018

       Sau khi nghiên cứu các quy định của thông tư liên tịch số 04/2018, chúng tôi nhận thấy có một số vướng mắc và có một số nội dung nên được quy định cụ thể hơn.

       2.1. Khoản 3 Điều 15 quy định việc ra quyết định tạm giữ người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được thực hiện trong thời hạn 12 giờ kể từ khi Cơ quan điều tra giữ người hoặc nhận người bị giữ. Theo chúng tôi quy định như trên vẫn gây ra nhiều cách hiểu khách nhau, cụ thể:

       - Hiểu như thế nào là “kể từ khi Cơ quan điều tra giữ người”, từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hay kể từ khi ra quyết định tạm giữ?

       - Trong trường hợp lệnh giữ người trước đó do một Cơ quan điều tra khác hoặc một cơ quan có thẩm quyền khác phối hợp thực hiện. Trong thời gian 12h Cơ quan điều tra ra lệnh mới nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, khi ra quyết định tạm giữ thì thời hạn tạm giữ tính từ khi Cơ quan khác thực hiện việc phối hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp hay chỉ tính từ khi Cơ quan điều tra đã ra lệnh nhận người bị giữ như quy định tại khoản 3 Điều 15 TTLT số 04/2015.

       Hiện nay Cơ quan điều tra các cấp đang thực hiện về thời hạn tạm giữ trong Quyết định tạm giữ theo hướng dẫn tại Công văn số 2000/CSĐT(C44) ngày 12/6/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an. Cụ thể tại điểm 3 mục I công văn số 2000 hướng dẫn: “3. Thời hạn 12 giờ theo khoản 4 Điều 110 và khoản 1 điều 114 nằm trong thời hạn 03 ngày tạm giữ theo quy định tại khoản 1 Điều 118”. Theo chúng tôi quy định như trên tại công văn số 2000 rất cụ thể, không thể dẫn đến việc hiểu khác nhau. Tuy nhiên công văn này chỉ là văn bản hướng dẫn của ngành Công an không phải là văn bản quy phạm pháp luật nên không có tính chất bắt buộc thực hiện.

       2.2. Về việc thực hiện trừ thời hạn tạm giữ trong thời hạn tạm giam khi việc tạm giữ và tạm giam không liên tục.

       Theo mẫu số 23 “Lệnh bắt bị can để tạm giam” ban hành kèm theo thông tư số 61 ngày 14/12/2017 của Bộ Công an, thời hạn tạm giam là “Bắt bị can để tạm giam trong thời hạn .............. tháng, kể từ ngày bắt….” . Theo mẫu 23 thì bắt 02 tháng là 60 ngày 03 tháng là 90 ngày, 04 tháng là 120 ngày. Vậy việc tính thời hạn tạm giam như thế nào trong trường hợp trước đó bị can đã bị tạm giữ như quy định tại TTLT số 04/2018? Theo chúng tôi cần phải sửa mẫu số 23 bổ sung thêm  nội dung “(được trừ đi thời hạn tạm giữ trước đó nếu có)” sau cụm từ “Bắt bị can để tạm giam trong thời hạn ..........tháng, kể từ ngày bắt”.

Nguyễn Ngọc Phong – Viện KSND huyện Phú Xuyên

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 94

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 717436