Nhận dạng và thẩm quyền tiến hành nhận dạng theo quy định của BLTTHS năm 2015

23/10/2019 15:53 | 165 | 0

        Việc nhận dạng được thực hiện trong giai đoạn xác minh nguồn tin về tội phạm hay sau khi khởi tố vụ án hình sự để điều tra; Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân có thẩm quyền tiến hành nhận dạng hay không? Vấn đề này vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau.

        Điều 190 BLTTHS năm 2015 quy định Điều tra viên có thẩm quyền tiến hành việc nhận dạng. Trưởng phòng, phó phòng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân có thể tiến hành thu thập chứng cứ, khởi tố vụ án hình sự để điều tra nhưng không phải là Điều tra viên nên không thể tiến hành việc nhận dạng (điểm e khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 40, điểm b khoản 1 Điều 164 BLTTHS năm 2015).

        Để tìm hiểu rõ quy định của pháp luật về nhận dạng, tác giả phân tích một số vấn đề như sau:

        Thứ nhất, cần xác định biên bản nhận dạng và lời trình bày trong biên bản nhận dạng có phải là chứng cứ không

        Điều 64 BLTTHS năm 2003 quy định lời khai là chứng cứ, không quy định lời trình bày là chứng cứ. Tuy nhiên, theo điểm b khoản 1 Điều 87, khoản 1 Điều 88 BLTTHS năm 2015 thì biên bản nhận dạng, lời trình bày, lời khai là nguồn chứng cứ. BLTTHS năm 2015 đã bổ sung rõ quy định “lời trình bày” là một trong các nguồn chứng cứ và phải được thu thập đúng theo trình tự, thủ tục do BLTTHS năm 2015 quy định. Nếu nguồn chứng cứ thu thập không đúng theo trình tự, thủ tục mà BLTTHS năm 2015 quy định thì không có giá trị pháp lý (khoản 2 Điều 88 BLTTHS năm 2015).

        Thứ hai, cần xác định người có thẩm quyền tiến hành thu thập chứng cứ.

        Căn cứ điểm a, g khoản 1 Điều 37 BLTTHS năm 2015 thì Điều tra viên trực tiếp kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm và nhận dạng. Điểm a khoản 2 Điều 40 BLTHS năm 2015 quy định Trưởng phòng, phó phòng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân có quyền “thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật từ những người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm”. Như vậy, Điều tra viên, Trưởng phòng, phó phòng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân theo quy định Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự có quyền thu thập chứng cứ.

        Thứ ba, “nhận dạng” được thực hiện trước khi khởi tố vụ án hay sau khi khởi tố vụ án?

        Khoản 3 Điều 147 BLTTHS năm 2015 quy định các hoạt động mà cơ quan có thẩm quyền có thể tiến hành khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố bao gồm: “thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ tổ chức cá nhân; khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản”. Nhận dạng không được quy định tiến hành ở giai đoạn này.

        Tuy nhiên, các căn cứ để giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định tại Điều 110 BLTTHS năm 2015: 1. Người cùng thực hiện tội phạm; 2. Bị hại; 3. Người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm. Cả 03 trường hợp trên, những người này khẳng định tại “Biên bản nhận dạng" chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn thì căn cứ điểm b khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015, Cơ quan điều tra có quyền ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Nhưng thẩm quyền ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Đồn trưởng đồn biên phòng trở lên, Người chỉ huy tầu bay, tầu biển khi tầu bay, tầu biển đã rời khỏi sân bay bến cảng.

        Đối chiếu với quy định viện dẫn nêu trên thì Trưởng phòng, phó phòng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân khi tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin tội phạm nếu thấy cần thiết phải tiến hành nhận dạng, để có căn cứ giữ người trong trường hợp khẩn cấp cần chuyển ngay hồ sơ tin báo, tố giác tội phạm đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Cơ quan điều tra có thẩm quyền phân công Điều tra viên tiến hành nhận dạng. Khi Điều tra viên được phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm thấy có đủ các căn cứ giữ người trong trường hợp khẩn cấp từ việc nhận dạng nêu trên thì đề xuất Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Lệnh trên cần được chuyển đến Viện kiểm sát cùng cấp xét phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, nếu có căn cứ theo khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015 thì Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Trường hợp Viện kiểm sát không phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khần cấp thì Cơ quan điều tra đã nhận người bị giữ phải trả tự do ngay cho người bị giữ.

        Điểm mới trong BLTTHS năm 2015 về hoạt động nhận dạng:

        “Điều 190. Nhận dạng

        2. Những người sau đây phải tham gia việc nhận dạng:

  1. Người làm chứng, bị hại hoặc bị can.
  2. Người chứng kiến.”                                                                                                                                                           Bên cạnh đó, quy định về quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố theo điểm d khoản 3 Điều 83 BLTTHS năm 2015 như sau:

        ... 3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền:

        ... d) Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;”

        Theo quy định này, có thể hiểu, cơ quan có thẩm quyền hoàn toàn có thể tiến hành hoạt động nhận dạng trong quá trình kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm.

        Như vậy, nhận dạng có thể được tiến hành tại giai đoạn kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, không cần thiết phải khởi tố vụ án xong mới có thể tiến hành nhận dạng. Việc tiến hành nhận dạng (đưa người, ảnh, vật…) cho người cùng thực hiện hành vi phạm tội, bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm nhận dạng người thực hiện hành vi phạm tội được thực hiện ở giai đoạn xác minh nguồn tin về tội phạm. Trước khi tiến hành việc nhận dạng, Điều tra viên thuộc Cơ quan điều tra, Trưởng phòng, Phó phòng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận dạng theo quy định tại khoản 1 Điều 190 BLTTHS năm 2015. Đối với các trường hợp bắt người phạm tội quả tang, mà người thực hiện hành vi phạm tội hoặc bị hại khai chính mắt trông thấy còn có đối tượng khác thực hiện hành vi phạm tội, nếu xét thấy cần ngăn chặn người này bỏ trốn thì Điều tra viên tiến hành nhận dạng làm căn cứ giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Đối với những trường hợp này, Viện kiểm sát chưa có quyết định phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm nhưng Kiểm sát viên được phân công trong ca trực có thể tham gia kiểm sát việc nhận dạng của Cơ quan điều tra theo quy định tại Điều 190 BLTTHS năm 2015 khi được thông báo việc nhận dạng.

        Ngoài ra, khoản 2 Điều 164 BLTTHS năm 2015 quy định Nhiệm vụ, quyền hạn của các Cơ quan khác của Công an nhân dân được giao tiến hành một số hoạt động điều tra như sau: “Khi làm nhiệm vụ của mình, nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu của tội phạm thì có quyền khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự”. Như vậy, sau khi khởi tố vụ án hình sự, Trưởng phòng, phó phòng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân trong thời hạn 07 ngày có quyền tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu.

        Tóm lại, pháp luật hiện hành chưa có hướng dẫn chi tiết về thời điểm tiến hành nhận dạng, thẩm quyền tiến hành nhận dạng của Trưởng phòng, phó phòng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân. Quan điểm của tác giả, việc nhận dạng có thể được tiến hành trước và sau khi khởi tố vụ án. Thẩm quyền của người tiến hành nhận dạng bao gồm Điều tra viên, Trưởng phòng, phó phòng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân khi kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm và sau khi khởi tố vụ án hình sự xét thấy có căn cứ tiến hành nhận dạng thì chuyển ngay nguồn tin tội phạm cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành nhận dạng theo quy định của BLTTHS. Mọi trường hợp trước khi tiến hành nhận dạng, Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận dạng.

Nguyễn Hoàng Hà - Phòng 1

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 129

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 762229