Một số phương pháp về đánh giá, sử dụng chứng cứ trong vụ án hình sự

28/05/2020 14:02 | 243 | 0

        Sau hơn 02 năm thi hành Bộ luật TTHS năm 2015 đã tháo gỡ được vướng mắc bất cập trong thực tiễn, đã thể chế hóa được chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện, xử lý nghiêm, chính xác kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội, tăng cường hơn nữa trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Bộ luật TTHS năm 2015 đã thể hiện rõ nét nguyên tắc Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo quyền con người và quyền công dân bất khả xâm phạm. Để tăng cường nâng cao hơn nữa về chất lượng thực hành quyền công tố và khả năng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phạm vi bài viết này nhằm mục đích trao đổi đưa ra một số phương pháp phục vụ cho việc đánh giá, sử dụng chứng cứ trong vụ án hình sự nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giải quyết án hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

        Đánh giá chứng cứ là khả năng hiểu biết, nhận thức, trách nhiệm và cảm nhận đối với diễn biến hành vi phạm tội của người tiến hành tố tụng. Đánh giá chứng cứ có ảnh hưởng to lớn đến việc sử dụng chứng cứ làm cơ sở cho việc nhận định và kết luận về bản chất của vụ án, hướng giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Trước tình hình thực tiễn và đòi hỏi của pháp luật cần người tiến hành tố tụng phải thận trọng, khách quan, nắm vững và vận dụng tốt phương pháp đánh giá về chứng cứ theo tư duy biện chứng, khoa học tạo tính thuyết phục cao. Người tiến hành tố tụng phải kiểm tra đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được từ vụ án; đánh giá chứng cứ phải dựa trên 02 phương pháp là: đánh giá từng chứng cứ và đánh giá tổng hợp các chứng cứ để xem xét mối liên hệ và ý nghĩa chứng minh làm sáng tỏ các vấn đề cần phải được làm rõ trong một vụ án hình sự là có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của người bị buộc tội. Bộ luật TTHS quy định về kiểm tra, đánh giá chứng cứ phải được đảm bảo 03 (ba) điều kiện, gồm: điều kiện về tính hợp pháp; điều kiện về tính xác thực; điều kiện về tính liên quan đến vụ án. Để đáp ứng 03 điều kiện về chứng cứ, khi đánh giá chứng cứ, người tiến hành tố tụng cần dựa trên 02 phương pháp đánh giá chứng cứ, cụ thể:

        1. Phương pháp đánh giá từng chứng cứ: Đánh giá từng chứng cứ là hoạt động nhận thức của người tiến hành tố tụng đối với mỗi chứng cứ đã được thu thập phải đảm bảo tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đến vụ án để xác định giá trị chứng minh của chứng cứ. Đánh giá từng chứng cứ là việc phức tạp trong suốt quá trình giải quyết vụ án (điều tra, truy tố, xét xử) nên đòi hỏi người tiến hành tố tụng nghiên cứu đánh giá phải tuân thủ các quy định của pháp luật, đánh giá từng chứng cứ phải thận trọng, tỉ mỉ và khách quan, không để yếu tố cá nhân chi phối. Trường hợp người tiến hành tố tụng xác định chứng cứ có ý nghĩa chứng minh thấp thì chưa tận dụng hết giá trị chứng minh của từng chứng cứ; trường hợp người tiến hành tố tụng xác định ý nghĩa chứng minh quá cao đối với mức độ chứng minh của chứng cứ thì dẫn đến khả năng nhận định chưa đúng bản chất vụ việc gây ảnh hưởng đến việc kết luận và hướng giải quyết vụ án.

        1.1. Khi người tiến hành tố tụng đánh giá từng chứng cứ, trước hết phải tìm phương pháp tiếp cận chứng cứ, nắm vững đặc điểm của từng loại chứng cứ, nguồn chứng cứ, sự việc, hiện tượng để xác định có phù hợp với quy luật khách quan của sự việc. Trong vụ án đối tượng dùng dao có một chiều là lưỡi dao sắc nhọn, một chiều có cạnh tù (thường gọi là lưng dao) thì người tiến hành tố tụng phải tiếp cận với dấu vết trên người nạn nhân, xác định dấu vết đó có chiều hướng như thế nào? Dấu vết có chiều sắc gọn và có chiều tù bờ mép ít sắc gọn, sơ bộ đánh giá nhận định dấu vết đó là do vật sắc nhọn có một cạnh sắc và một cạnh tù gây nên. Đánh giá chứng cứ trong vụ án là dấu vết trên người nạn nhân phù hợp khách quan với hung khí là dao nhọn có lưỡi sắc nhọn và có cạnh tù gây ra.

        1.2. Đối với chứng cứ được hình thành, tồn tại trong một điều kiện môi trường nhất định có thể tác động đến giá trị chứng minh, như dấu vân tay của đối tượng trên bàn hoặc trên thành cốc thủy tinh, cần phải được thu mẫu vân tay càng nhanh càng có ý nghĩa, việc thu mẫu vân tay càng chậm thì càng gặp nhiều khó khăn, nếu quá chậm thì dấu vân tay không còn lưu trên đồ vật do tác động của nhiệt độ, ánh sáng và môi trường xung quanh. Đối với chứng cứ là dấu vân tay chỉ có ý nghĩa xác định đối tượng có đến hiện trường và có chạm hoặc cầm vào đồ vật là thành cốc hoặc mặt bàn, chưa có ý nghĩa trong việc xác định đối tượng đó thực hiện tội phạm.

        1.3. Đánh giá xem xét mối quan hệ nhân quả của từng chứng cứ đối với đối tượng cần chứng minh, làm rõ yếu tố nào của đối tượng chứng minh được đến đâu và giá trị chứng minh của từng chứng cứ. Như chứng cứ là giấy khai sinh của đối tượng chỉ có giá trị chứng minh ngày, tháng, năm sinh của đối tượng và có ý nghĩa chứng minh đối tượng đủ 14 tuổi hoặc đủ 16 tuổi để xác định có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không; hoặc trường hợp xác định đối tượng đã đủ 18 tuổi hay chưa đủ 18 tuổi để làm cơ sở xử lý xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoặc quá trình điều tra, truy tố, xét xử áp dụng thủ tục tố tụng đối với người dưới 16 tuổi.

        1.4. Trên thực tế, không phải chứng cứ đã thu thập đều có giá trị chứng minh ngang bằng nhau mà đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải xem xét đánh giá đặc điểm của từng loại của chứng cứ và ý nghĩa chứng minh liên quan đến vụ án; đồng thời phải đặt nó vào mối liên hệ với các chứng cứ khác.

        2. Phương pháp đánh giá tổng hợp chứng cứ: Đánh giá tổng hợp chứng cứ đòi hỏi người tiến hành tố tụng đặt các chứng cứ trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhằm xác định giá trị chứng minh của chứng cứ trong vụ án. Đánh giá tổng hợp chứng cứ là biện pháp nghiên cứu xem xét mặt khách quan và tính liên quan không thể thiếu được đối với người tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án. Do vậy người tiến hành tố tụng khi đánh giá tổng hợp chứng cứ phải tuân thủ trên các nguyên tắc:

        2.1. Kết quả kiểm tra đánh giá của từng chứng cứ bảo đảm đủ 03 thuộc tính của chứng cứ là tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan của vụ án. Khi đánh giá chứng cứ phải nắm vững về chứng cứ, lý luận về chứng cứ và các nguyên tắc có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến việc đánh giá chứng cứ.

        2.2. Chấp hành các nguyên tắc đánh giá chứng cứ như tôn trọng những gì có thật, được thu thập hợp pháp theo trình tự và thủ tục của Bộ luật TTHS, có ý nghĩa trong việc xác định có hay không có sự việc phạm tội, có hay không có người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

        2.3. Trình độ kiến thức pháp luật của người tiến hành tố tụng phải nắm vững các yếu tố cấu thành cơ bản của tội phạm để sử dụng chứng cứ có ý nghĩa chứng minh; biết liên kết các chứng cứ, sự việc có liên quan để có khả năng định hướng điều tra, tính quyết đoán và chịu trách nhiệm trong việc nhận định đánh giá tình hình, đưa ra hướng giải quyết phù hợp với quy định của pháp luật. Thường xuyên tích lũy kinh nghiệm xử lý của bản thân mình và của đồng nghiệp.

        2.4. Việc đánh giá tổng hợp chứng cứ là vô cùng quan trọng giúp người tiến hành tố tụng làm và hiểu rõ bản chất của vụ án cần phải giải quyết và kết luận chính xác những vấn đề mà pháp luật yêu cầu như: Có sự việc phạm tội hay không? Nếu có sự việc phạm tội thì phạm tội gì; diễn biến tội phạm xảy ra như thế nào; người thực hiện tội phạm là ai; hậu quả tội phạm gây ra và xâm hại đến khách thể nào và như thế nào. Đánh giá tổng hợp giữa các chứng cứ chứng minh và phương pháp thu thập chứng cứ có quan hệ móc xích với nhau, người tiến hành tố tụng phải có tư duy suy luận, phán đoán và đưa ra các tình huống rồi sử dụng các chứng cứ để kiểm chứng kết luận tình huống đúng đắn đảm bảo tính toàn diện, khách quan.

        3. Phương pháp sử dụng chứng cứ: Đặc điểm của các chứng cứ khác nhau và có ý nghĩa chứng minh khác nhau, nên người tiến hành tố tụng khi sử dụng chứng cứ phải thận trọng, khách quan, khoa học, nhằm mục đích làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án.

        3.1. Yêu cầu sử dụng chứng cứ là nhằm mục đích làm sáng tỏ diễn biến vụ án, các tình tiết liên quan đến vụ án và xác định rõ giá trị chứng minh, ý nghĩa của từng chứng cứ có tác dụng chứng minh một sự việc có liên quan. Trường hợp sử dụng dấu vân tay thu trên hiện trường chỉ có ý nghĩa và tác dụng xác định trong một thời điểm nhất định đối tượng có xuất hiện ở hiện trường, còn việc đối tượng có thực hiện hành vi phạm tội hay không thì cần phải xem xét thêm nhiều chứng cứ khác.

        3.2. Sử dụng chứng cứ là vật chứng gồm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm có giá trị chứng minh đã được kiểm tra, đánh giá theo quy định của pháp luật. Trường hợp chứng cứ không đủ cơ sở để xác định đảm bảo các thuộc tính của chứng cứ (tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đến vụ án) thì không được sử dụng vào việc chứng minh vụ án hoặc sử dụng làm cơ sở giải quyết vụ án.

        3.3. Sử dụng kết luận giám định là căn cứ khoa học được sử dụng vào việc chứng minh vụ án khi được tiến hành theo trình tự của Bộ luật TTHS, tiến hành giám định theo quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan tiến hành tố tụng, giám định phải do Giám định viên tiến hành và kết luận phải mang tính chất khẳng định, dựa trên cơ sở khoa học, khách quan, kết luận giám định là căn cứ quan trọng có giá trị chứng minh cao. Trường hợp kết luận giám định nêu chưa rõ ràng, chung chung hoặc nêu có thể thì chứa đủ giá trị chứng minh cao nên cần phải yêu cầu giám định bổ sung để khẳng định.

        3.4. Sử dụng chứng cứ có tính xác thực và tính liên quan đến vụ án nhưng quá trình thu thập chứng cứ không đảm bảo tính hợp pháp thì người tiến hành tố tụng cần phải xem xét lý do và nguyên nhân dẫn đến việc không đảm bảo tính hợp pháp. Việc không đảm bảo tính hợp pháp của chứng cứ mà không làm ảnh hưởng đến sự việc, không làm thay đổi bản chất vụ án hoặc không có khả năng thu thập lại chứng cứ (như người làm chứng đã chết hoặc vết máu trên hiện trường không còn...) thì chứng cứ đó cần được sử dụng để chứng minh.

        3.5. Sử dụng lời khai của bị can, bị cáo: Trước hết phải đảm bảo nguyên tắc lời khai phù hợp với tài liệu chứng cứ khác. Trường hợp bị can, bị cáo thay đổi lời khai, không thống nhất; lời khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng do bị can dưới 18 tuổi nên lời khai nhận này chưa có người đại diện hợp pháp tham gia. Sau đó bị can thay đổi lời khai và cho rằng không thực hiện hành vi phạm tội. Tuy lời khai nhận tội ban đầu chưa đảm bảo tính hợp pháp (thiếu người đại diện hợp pháp) nhưng lời khai này phù hợp với các tài liệu khác như vật chứng, nhân chứng nên việc sử dụng lời khai nhận ban đầu để làm chứng cứ chứng minh là có cơ sở chấp nhận.

        3.6. Sử dụng lời khai người làm chứng phải đánh giá mối quan hệ giữa người làm chứng với người bị buộc tội, lời trình bày những gì mà người làm chứng biết, lý do biết sự việc, điều kiện ánh sáng và khoảng cách người làm chứng với vị trí xảy ra để xác định tính khách quan, đúng đắn và giá trị chứng minh của lời khai.

        3.7. Sử dụng chứng cứ điện tử là sử dụng thiết bị điện tử có lưu giữ kí hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh được xác định phải căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố khác phù hợp. Mặc dù chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về cách thức thu thập chứng cứ điện tử nhưng khi sử dụng chứng cứ này cần phải đảm bảo nguyên tắc đã được chuyển hóa sang chứng cứ “truyền thống”, được thu thập hợp pháp, có tính xác thực và liên quan đến vụ án. Khi sử dụng chứng cứ điện tử phải xác định được nguồn chứng cứ do người tố giác cung cấp hay người bị hại cung cấp hoặc do truy xét từ các thiết bị điện tử của người dân gần nơi xảy ra vụ án (như kiểm tra camera, máy ảnh của người dân, ...) và trình tự thu thập đảm bảo quy định của pháp luật.

        Trên đây là một số trao đổi về phương pháp đánh giá chứng cứ và sử dụng chứng cứ trong vụ án hình sự. Rất mong được sự bổ sung, góp ý của bạn đọc và đồng nghiệp.  

                                                      Đỗ Minh Tuấn - Phó Trưởng Phòng 1

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 7

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 822632