Một số bất cập, khó khăn trong thực tiễn thi hành quy định của BLTTHS năm 2015

24/07/2020 17:02 | 213 | 0

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Qua công tác giải quyết vụ án hình sự trên thực tiễn, tôi nhận thấy có một số quy định của BLTTHS năm 2015 chưa được hướng dẫn cụ thể, dẫn đến vướng mắc và áp dụng không thống nhất giữa các địa phương. Cụ thể như sau:

        1. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với tội phạm về ma túy

        1.1. Thứ nhất, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong trường hợp bắt đối tượng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:

        Thực tế tại một số địa phương hiện nay chưa áp dụng thống nhất việc áp dụng biện pháp ngăn chặn “bắt người” với đối tượng đang tàng trữ trên người gói bột nghi là ma túy và đối tượng tự khai nhận ngay lúc bị phát hiện “là ma túy của đối tượng tàng trữ để sử dụng”. Ngay trên địa bàn thành phố Hà Nội, Cơ quan điều tra công an cấp quận, huyện cũng đang áp dụng hai hình thức bắt người khác nhau.

        - Hình thức thứ nhất (quan điểm thứ nhất): Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” theo điểm c khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015, sau đó tiến hành Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Theo quan điểm này, khi phát hiện hành vi phạm tội, mặc dù người đang thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ chất nghi là ma túy nhưng chưa có kết quả giám định (sơ bộ) nên không chắc chắn đó là ma túyVì vậy, không thể áp dụng hình thức bắt quả tang và phải tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo điểm c khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015. Trong quá trình tạm giữ người theo trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định. Sau khi có kết quả giám định (sơ bộ), nếu xác định là ma túy và đủ trọng lượng thì tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.

        - Hình thức thứ hai (quan điểm thứ hai): Đối tượng đang thực hiện hành vi nghi là tàng trữ trái phép chất ma túy và bản thân đối tượng cũng tự khai nhận là ma túy tàng trữ để sử dụng nên Cơ quan điều tra áp dụng hình thức bắt người phạm tội quả tang và ra quyết định tạm giữ.

        Tôi tán thành việc bắt đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy theo quan điểm thứ hai, với căn cứ như sau:

        Khi bị phát hiện, đối tượng đang tàng trữ vật nghi là chất ma túy trên người (đối tượng tự khai nhận là ma túy). Như vậy tại thời điểm đó, đối tượng đang thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ theo quy định tại Điều 111 BLTTHS năm 2015, đây là trường hợp bắt người phạm tội quả tang.

        Trong khi đó, điểm c khoản 1 Điều 110 BLTTHS năm 2015 quy định căn cứ để giữ người trong trường hợp khẩn cấp là “Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ”. Tôi cho rằng, “Có dấu vết của tội phạm ở người…” cần được hiểu là tội phạm đã thực hiện xong, đã hoàn thành, không phải là đang thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc áp dụng căn cứ này để giữ đối tượng đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là không phù hợp.

        Để đảm bảo thống nhất thi hành các quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp ngăn chặn, tác giả cho rằng các cơ quan tiến hành tố tụng cấp trên cần có hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt đối tượng “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo hình thức bắt người phạm tội quả tang (khi phát hiện thu giữ trên người bị can) để phù hợp với hành vi khách quan của loại tội phạm này.

        1.2. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với tội phạm về ma túy phạm tội thuộc khoản 1 của các Điều từ 247đến 259 BLHS

        Căn cứ áp dụng biện pháp Tạm giam đối với bị can của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 được hạn chế nhiều. BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tuy nhiên các quy định về biện pháp ngăn chặn được thực hiện ngay sau khi Bộ luật được ban hành. Kể từ khi thực hiện Điều 119 BLTTHS năm 2015, việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với tội phạm ma túy theo khoản 1 các Điều từ 247 đến 259 BLHS trong đó chủ yếu là tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy luôn là vấn đề được đặt ra nhiều nhất và luôn tồn tại 2 quan điểm về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú hay Tạm giam.

        Quan điểm thứ nhất: Đối với hành vi phạm tội ở khoản 1 các tội phạm về Ma túy là tội phạm nghiêm trọng nếu không có căn cứ thật sự rõ ràng theo quy định của khoản 2 Điều 119 Bộ luật TTHS như: Tái phạm, không có địa chỉ rõ ràng cụ thể là không có nơi đăng ký thường trú, tạm trú (theo pháp luật về Cư trú) thì mới áp dụng biện pháp Tạm giam.

        Quan điểm thứ hai: Tội phạm về ma túy là tội phạm là nguồn dễ phát sinh các tội phạm khác như: tội phạm về chiếm đoạt tài sản, xâm hại tính mạng sức khỏe… Bị can phạm tội ma túy thường là đối tượng nghiện ma túy nên nếu áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú thì sẽ tiếp tục mua ma túy để sử dụng. Đối tượng nghiện ma túy mặc dù có nơi đăng ký hộ khẩu rõ ràng nhưng thường ít khi ở nhà mà tụ tập với các đối tượng khác nay ăn ở chỗ này mai chỗ khác, thường chỉ về nhà chốc lát xong lại đi. Với nhận định như trên, các dấu hiệu của thể của mỗi bị can thường được chuyển hóa thành các tài liệu căn cứ tạm giam theo các điểm b và d của khoản 2 Điều 119 BLTTHS, cụ thể:

        - Không có nơi cư trú rõ ràng (điểm b): Lý lịch, Tài liệu xác minh nhận xét của địa phương, lời khai của người thân trong gia đình thể hiện: bị can thường bỏ nhà đi đâu không rõ, ít ở nhà…

        - Có dấu hiệu tiếp tục phạm tội (điểm d): Lời khai của bị can về liều lượng, thời gian bao nhiêu lâu dùng ma túy một lần (ví dụ: ngày nào cũng sử dụng hoặc 1 tuần dùng 1 đến 2 lần..), nhân thân đã từng có tiền sự…

        Vì thực tế có 2 luồng quan điểm như trên nên việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam đối với tội phạm về ma túy phạm tội thuộc khoản 1 ở các cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau được thực hiện không thống nhất, có địa phương thận trọng nên áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú nhiều, địa phương có quan điểm ngược lại thì hầu hết áp dụng biện pháp Tạm giam sau khi củng cố các tài liệu như đã nêu ở trên.

        Về nội dung này tác giả thấy như sau:

        Thực tế đối với tội phạm về ma túy đúng là phần lớn là đối tượng nghiện, thường xuyên sử dụng ma túy. Với tình hình đặc điểm kinh tế và lao động hiện nay, nhất là đối với các tỉnh thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh… các lao động ngoại tỉnh nhiều. Phần lớn các khu đô thị đang xây dựng sử dụng lao động ở các tỉnh Miền nùi (vì chấp nhận mức lương thấp và lao động vất vả) những lao động này thì nhiều người sử dụng ma túy và nay đây mai đó do phụ thuộc vào công việc xin được. Do đó việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình điều tra truy tố xét xử đối với các bị can.

        Về các tài liệu thu thập để làm căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mà một số đơn vị đang thực hiện để Tạm giam phần lớn các đối tượng phạm tội về ma túy, hiện nay được thu thập, nhận định và áp dụng theo quan điểm của đơn vị đó và trước hết là những người tiến hành tố tụng (trong đó chủ yếu là Viện kiểm sát) phải chịu trách nhiệm về căn cứ tạm giam. Mà đã là quan điểm thì có thể đúng, có thể sai theo nhận định của mỗi người khác nhau. Trong trường hợp xảy ra sự cố không mong muốn bị can chết (do đánh nhau trong trại hoặc ốm chết, tự tử…) thì việc đầu tiên được đưa ra là căn cứ Tạm giam có đúng hay không?

        Vì vậy, chúng tôi đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng cấp trên cần sớm có văn bản hướng dẫn về căn cứ áp dụng biện pháp Tạm giam theo khoản 2 Điều 119 BLTTHS, nhất là các điểm b và d.

        2. Việc tách vụ án để điều tra theo quy định tại Điều 170 BLTTHS năm 2015

        Thực tiễn giải quyết án hình sự cho thấy, có trường hợp ngoài bị can đã bị khởi tố, nếu phát hiện còn đối tượng khác nhưng chưa đủ căn cứ kết luận đối tượng này có đồng phạm với bị can đã bị khởi tố hay không, cơ quan tiến hành tố tụng rất khó để áp dụng quy định về tách vụ án điều tra đối với đối tượng này. Ví dụ: trong một vụ án Cố ý gây thương tích, bị hại khai báo bị 02 đối tượng A và B đánh gây thương tích với tỷ lệ 11%. Cơ quan điều tra đã khởi tố bị can đối với A, còn đối với B mặc dù có căn cứ thể hiện B cùng A đến gặp bị hại nhưng sau khi vụ án xảy ra không ghi được lời khai của B, không có căn cứ nào khác để chứng minh B đồng phạm với A. Vì vậy, trong bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra chỉ đề nghị truy tố đối với A, còn với B thì nhận định “đối với B, hiện nay chưa ghi được lời khai, các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra chưa đủ căn cứ kết luận B cùng thực hiện hành vi phạm tội đối với A, khi nào làm rõ hành vi của B sẽ xử lý sau”.

        Đối chiếu với quy định tại Điều 170 Bộ luật TTHS năm 2015 thì thấy rằng, Điều 170 quy định việc tách vụ án chỉ được áp dụng trong trường hợp cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm. Mặt khác, trong hệ thống biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư 61 ngày 14/12/2017 của Bộ Công an cũng chỉ có mẫu “Quyết định tách vụ án hình sự” khi đã khởi tố đối với bị can mà không thể kết luận điều tra đối với hành vi của bị can đó (mẫu số 104). Như vậy, với trường hợp của B, việc áp dụng quy định về tách vụ án để điều tra theo Điều 170 BLTTHS năm 2015 không thể thực hiện được và trong biểu mẫu quyết định tố tụng của Bộ công an cũng không có mẫu văn bản tố tụng nào áp dụng để giải quyết trường hợp này. Thực tế, trong bản Kết luận điều tra, Cơ quan điều tra nêu rõ “khi nào làm rõ hành vi của B sẽ xử lý sau”, nhưng việc xử lý tiếp theo như thế nào hiện chính Cơ quan điều tra còn đang “lúng túng” khi thực hiện.

        Ở tình huống trên, Cơ quan điều tra không thể ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với B được bởi vì bản chất vụ án đó đã được giải quyết theo trình tự tố tụng và đã có phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Mặt khác, trong hồ sơ vụ án “Cố ý gây thương tích” trước đó cũng không có quyết định tách vụ án để điều tra đối với trường hợp của B. Do vậy, mặc dù có căn cứ xác định B là người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng Cơ quan điều tra lại không thể ra quyết định khởi tố bị can đối với B vì không có căn cứ pháp lý phù hợp.

        Để giải quyết vướng mắc trên, chúng tôi cho rằng cơ quan tiến hành tố tụng cấp trên cần phải ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể theo hướng sau đây: với những trường hợp phát hiện có đối tượng khác trong vụ án hình sự nhưng chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra vẫn có thể áp dụng quy định về việc tách vụ án theo Điều 170 BLTTHS năm 2015 và trong biểu mẫu về quyết định tách vụ án cần bổ sung thêm mẫu “Quyết định tách vụ án đối với hành vi của đối tượng…….”. Nếu đã hết thời hạn điều tra mà vẫn chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với B thì ra quyết định tạm đình chỉ điều tra (áp dụng điểm a khoản 1 Điều 229 Bộ luật TTHS năm 2015). Khi có đủ căn cứ khởi tố bị can với B thì ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án và quyết định khởi tố bị can đối với B. Trong trường hợp không có căn cứ khởi tố đối với B thì ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án đã được tách đối với hành vi của B.

        Trên đây là chia sẻ của tác giả về một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng một số quy định của BLTTHS năm 2015. Mong được trao đổi cùng với các đồng nghiệp và kiến nghị các cơ quan tiến hành tố tụng cấp trên sớm hướng dẫn cụ thể nhằm khắc phục các vướng mắc nêu trên, đảm bảo áp dụng thống nhất quy định của BLTTHS năm 2015 trên thực tiễn thi hành.

Nguyễn Ngọc Phong - Viện KSND huyện Đông Anh

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 47

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 831406