Bàn về trách nhiệm hình sự trong trường hợp cầm cố tài sản góp vốn

07/09/2020 09:56 | 116 | 0

        Trách nhiệm pháp lý là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể phải gánh chịu khi không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Trách nhiệm pháp lý có thể là trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm hình sự.

        Trên thực tế, việc phân định trách nhiệm pháp lý tương ứng theo hành vi vi phạm rất phức tạp, đặc biệt trong các trường hợp liên quan đến hợp đồng dân sự. Việc xác định hành vi vi phạm hợp đồng chỉ đơn thuần là vi phạm pháp luật dân sự hay vi phạm pháp luật hình sự đến mức được coi là tội phạm hiện còn tồn tại nhiều quan điểm gây tranh cãi, điều này làm ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

        Ví dụ tình huống dưới đây:

        Nguyễn Văn A ký hợp đồng lao động, hợp tác kinh doanh với Công ty Cổ phần dịch vụ vận tải du lịch B (Công ty B), nội dung hợp đồng là A được công ty B giao 01 chiếc xe ôtô nhãn hiệu Huyndai I10 trị giá 540.000.000đ, A đóng trước một phần số tiền góp vốn là 50.000.000đ, sau đó mỗi tháng đóng về công ty 15.000.000đ (gồm 10.200.000đ tiền góp vốn, số còn lại là tiền cước phí tần số, bộ đàm, tổng đài…) vào ngày 25 - 30 hàng tháng trong vòng 48 tháng. Tài sản góp vốn sẽ do Công ty B đứng tên và được xem là hoàn tất nghĩa vụ kể từ ngày Công ty B cung cấp cho A biên bản xác nhận vốn góp đầy đủ hoặc giấy tờ khác có nội dung tương tự. Trong thời gian góp vốn, hai bên thực hiện theo hợp đồng dân sự với nội dung: A được quản lý và sử dụng xe, không được mua bán, cầm cố, thế chấp. Tính đến tháng 9/2018, A đã góp vốn cho Công ty B với tổng số tiền là 150.000.000đ. Ngày 15/10/2018, do nhu cầu cần tiền tiêu xài cá nhân, A đã mang chiếc xe trên đi cầm cố cho anh Trần Văn C để lấy số tiền 80.000.000đ dưới hình thức viết giấy bán xe (anh C biết là xe góp vốn của A với công ty B). Đến đầu tháng 11/2018, do A không thực hiện theo hợp đồng nên Công ty B gọi điện nhắc nhở, yêu cầu nếu không nộp tiền sẽ thu xe về Công ty theo quy định nhưng A vẫn không thực hiện. Ngày 20/11/2018, anh D là đại diện Công ty B tìm A để thu hồi xe, do xe đã mang đi cầm cố cho anh C nên A nói dối là xe đang cho bạn mượn nhưng bị mất chìa khóa, không gọi được cho bạn, không biết xe đang ở đâu. Sáng ngày 21/11/2018, anh D mang theo chìa khóa dự phòng và sử dụng hệ thống định vị đi cùng A đến khu vực Đại lộ Thăng Long tìm xe thì phát hiện chiếc ô tô trên đang dừng đỗ bên đường, không có ai trông giữ. A nói anh D đưa xe về trụ sở công ty để bàn giao, anh D dùng chìa khóa dự phòng mở cửa và đưa xe về. Chiều cùng ngày, anh C phát hiện xe ô tô bị mất đã gọi điện cho A hỏi nhưng A nói không biết xe đang ở đâu nên anh C đã đến cơ quan Công an trình báo.

        Một số quan điểm trong việc giải quyết vụ việc:

        - Quan điểm thứ nhất, A phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: xe ôtô nhãn hiệu Huyndai I10 do công ty B đứng tên chủ sở hữu, giao cho A sử dụng. Quá trình sử dụng, do nhu cầu tiêu xài cá nhân, A đã cầm cố chiếc xe trên lấy tiền nên hành vi của A đã phạm vào tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đối với hành vi cùng anh D đi thu xe ô tô rồi bàn giao cho Công ty, A không nói cho anh D biết việc đã cầm cố xe và cũng không báo cho anh C biết việc lấy xe là có dấu hiệu của tội Trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, việc lấy được xe là do anh D dùng hệ thống định vị của công ty và chìa khóa dự phòng nên hành vi này thu hút vào hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

        - Quan điểm thứ hai, A phạm tội Trộm cắp tài sản: A đem ô tô đi cầm cố lấy tiền nhưng số tiền cầm cố thấp hơn số tiền đóng góp cho Công ty B để góp vốn nên hành vi của A không cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Việc A và D đến đưa xe về công ty trong khi không có ai trông giữ tài sản, A cũng không thông báo cho D (là người hiện đang quản lý tài sản) biết việc lấy xe, như vậy hành vi của A cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Anh D do không biết rõ mục đích cũng như việc A cầm cố xe nên không đồng phạm với A về tội phạm này.

        - Quan điểm thứ ba, A phạm cả hai tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Trộm cắp tài sản: xe ôtô nhãn hiệu Huyndai I10 do công ty B đứng tên chủ sở hữu, giao cho A sử dụng. Quá trình sử dụng, do nhu cầu tiêu xài cá nhân, A đã cầm cố chiếc xe trên lấy tiền nên hành vi của A đã phạm vào tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Sau khi tài sản được giao cho anh C (giao tài sản ngay tình), A đã gian dối anh D để lấy chìa khóa dự phòng và định vị xác định vị trí xe ô tô. Việc A cùng anh D lấy xe ô tô mang về công ty là lén lút đối với anh C (đang là người quản lý tài sản) nên hành vi của A đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản. Anh D do không biết rõ mục đích cũng như việc A cầm cố xe nên không đồng phạm với A về tội phạm này.

        - Quan điểm thứ tư, A không phạm tội: hành vi của Nguyễn Văn A không vi phạm pháp luật hình sự vì các lý do sau:

        + Đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: xe ô tô được mua dưới hình thức góp vốn (trả góp), trong thời gian góp vốn, chiếc xe đăng ký sở hữu của Công ty B, giấy tờ gốc do Công ty B quản lý và không thể giao dịch cầm cố, thế chấp hoặc bán xe. A đã góp vốn với công ty với tổng số tiền 150.000.000đ, sau đó A không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết nên Công ty B đã cử anh D là đại diện đi thu xe ô tô bàn giao về công ty. Bản thân Công ty B không bị thiệt hại tài sản gì. Do đó hành vi của A không cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

        + Đối với tội Trộm cắp tài sản: A cầm cố chiếc xe ô tô cho anh C để nhận số tiền 80.000.000đ và viết giấy bán xe. Anh C biết chiếc xe trên là xe góp vốn của A với Công ty B, giấy tờ xe do Công ty B quản lý và chiếc xe trên không thể mua bán, cầm cố được. Bản chất hợp đồng trên là việc vay mượn tiền, anh C được A giao chiếc xe ô tô trên để “làm tin”, hợp đồng mua bán xe là vô hiệu. Trong thời gian anh C sử dụng chiếc xe ô tô trên, A và anh D sử dụng chìa khóa dự phòng và định vị để thu hồi xe mang về bàn giao cho Công ty. Việc A và anh D lấy xe là lén lút đối với anh C, tuy nhiên anh D không biết việc A đã cầm cố xe cho anh C, còn mục đích A đi cùng anh D là để hoàn thiện thủ tục bàn giao xe lại cho Công ty do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Cả A và anh D đều không có mục đích chiếm đoạt chiếc xe ô tô trên, do đó hành vi của A không cấu thành tội Trộm cắp tài sản.

        Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ tư, Nguyễn Văn A vi phạm trong việc thực hiện hợp đồng dân sự, không vi phạm pháp luật hình sự. Bởi lẽ, trong tình huống nêu trên, có hai mối quan hệ cần được xem xét:

        Thứ nhất, mối quan hệ giữa Nguyễn Văn A và Công ty B: Giữa hai bên đã có hợp đồng dân sự, theo đó A có nghĩa vụ góp vốn định kỳ, không được cầm cố, thế chấp tài sản góp vốn (chiếc xe ô tô). Việc A cầm cố chiếc xe ô tô để lấy tiền tiêu xài cá nhân là vi phạm cam kết nêu trong hợp đồng, theo đó bên có vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm do hành vi vi phạm của mình gây ra. Theo quy định tại khoản 1 Điều 358 BLDS năm 2015 quy định “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý, bồi thường thiệt hại”. Đây là hình thức buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng hợp đồng. Trong tình huống này, công ty B đã nhiều lần nhắc A nộp tiền nhưng A không thực hiện nên đã cử đại diện là anh D đi thu hồi xe. Thực tế chiếc xe đã được thu hồi, công ty B không bị thiệt hại. Do vậy, đây là trường hợp vi phạm hợp đồng dân sự. Hành vi của A không cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

        Thứ hai, mối quan hệ giữa Nguyễn Văn A và C: Giữa A và C thực hiện giao dịch dân sự cầm cố tài sản (dưới hình thức viết giấy bán). Theo quy định tại Điều 309 BLDS năm 2015 quy địnhCầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”. Trong tình huống, tài sản cầm cố là chiếc xe ô tô Huyndai I10 do Công ty B đứng tên chủ sở hữu, A không phải chủ sở hữu nên không được thực hiện hợp đồng cầm cố với C. Do đó, hợp đồng cầm cố giữa A và C vô hiệu thuộc trường hợp đối tượng không thể thực hiện được (khoản 1 Điều 408 BLDS 2015). Mặt khác, việc A cùng anh D đến đưa chiếc xe về công ty là để hoàn tất thủ tục bàn giao, mặc dù không nói trước với C và cũng không trả lời thành thật khi C hỏi nhưng A không có ý thức chiếm đoạt đối với chiếc xe. Do vậy hành vi của A không cấu thành tội Trộm cắp tài sản.

        Trên đây là quan điểm của chúng tôi về vấn đề trách nhiệm hình sự trong trường hợp cầm cố tài sản góp vốn thông qua tình huống giả định cụ thể. Rất mong có sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp!

Trung Thành, Trần Nghiêm - Văn phòng tổng hợp

HÌNH ẢNH

ĐĂNG NHẬP

Website liên kết

Thống kê truy cập

Đang truy cập Đang truy cập : 36

Tổng lượt truy cập Tổng lượt truy cập : 842253